Các Trường Quốc Gia Cao
Đẳng ở Sài g̣n
và Gia Định trước
năm 1975
TM tổng hợp và bổ túc
Lời mở đầu :
Bài này là một tổng hợp
và bổ túc
lược sử thành lập của các trường Quốc Gia Cao Đẳng
ở Sàig̣n và Gia Định trước năm 1975.
Tuy nhiên phần lớn các trường này
tọa lạc trong khuôn viên cũa Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ và sau đó
trực thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức , v́ vậy sẽ
là một thiếu sót lớn nếu không đề cập
tới hai cơ sở này.
V́ vậy, phần tŕnh bày của bài này
đă được xắp xếp theo thứ tự
như sau :
A.
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ
;
B.
Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức ;
C.
Các trường Quốc Gia Cao Đẳng
theo năm thành lập .
Sau đây là mục lục của bài :
1.
Năm 1957 - Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú
Thọ - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến
Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n
;
2.
Năm 1957 - Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức - Quận Thủ Đức-Tỉnh Gia
Định ;
3.
Năm 1902 - Trường Cao Đẳng Công Chánh
- Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến
Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n
;
4.
Năm 1924 - Trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật Sàig̣n- Đại Lộ
Chi Lăng ̣và Nguyễn Văn Học -Gia
Định ;
5.
Năm 1938 - Trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc (Sàig̣n) - Số 45 đại lộ
Cường Để-Quận 1-Sàig̣n ;
6.
Năm 1940 - Trường Cao Đẳng
Hàng Hải - Đường
Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường
Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;
7.
Năm 1952 - Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh ( Trường Quốc Gia Hành Chánh ) - Số 10, đường Trần
Quốc Toản - Quận 10-Sàig̣n ;
8.
Năm 1956 - Trường Quốc Gia Kỹ
Sư Công Nghệ - Đường Nguyễn Văn
Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n ;
9.
Năm 1956 - Trường Quốc Gia
Thương Mại - Đường Nguyễn Văn Thoại
và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận
10-Sàig̣n ;
10.
Năm 1957 - Trường Cao
Đẳng Điện Học - Đường Nguyễn
Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n ;
11.
Năm 1962 - Trường Cao Đẳng Hóa
Học - Đường Nguyễn Văn Thoại và
Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận
10-Sàig̣n ;
12.
Năm 1962 - Trường Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật- Quận 10-Sàig̣n & Thủ
Đức-Gia Định;
13. Năm
1963 - Trường Cao
Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc - Quận 1- Sàig̣n ;
14.
Phụ lục
: Những mốc
thời gian quan trọng trong quá tŕnh xâm chiếm Việt Nam và xây dựng các hạ tầng cơ sở thiết yếu bởi người Pháp .
(Chú thích : Năm ghi trong danh sách ở trên là
năm thành lập của các cơ sở tiền thân của
các trường Quốc
Gia Cao Đẳng ở Sàig̣n và Gia Định) .
Tác giả TM
đă tổng hợp các tài liệu tham khảo t́m thấy trên
mạng cùng lúc cập nhật hóa
và bổ túc thêm với những chi tiết như danh
sách các giám đốc ,giáo sư,trường sở, học
tŕnh và h́nh ảnh xưa cũng như nay.
Trước khi
xử dụng các tài liệu
sưu tầm trên mạng,TM đă kiểm soát chéo (cross
check) lẫn nhau những dữ kiện từ các nguồn
này trước khi tổng
hợp.Tuy vậy, dù đă cố gắng tối đa
nhưng chắc chắn bài viết vẫn c̣n thiếu
sót.Tác giả rất vui mừng đón nhận những phê
b́nh, chỉ dẫn và bổ túc của các vị
độc giả để có thể hoàn thiện bài này .
V́ lư do rất
hiển nhiên là Trung Tâm
Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức và các trường
Quốc Gia Cao Đẳng đều được thành lập
và hoạt động từ trước năm 1975, do đó bài này chỉ dùng các danh từ, ngữ vựng,
thành ngữ,các tên đường và địa chỉ
đă được đặt ra và xử dụng
trước năm 1975 của chính phủ Việt Nam
Cộng Ḥa.
Để dễ
dàng việc định vị các cơ sở này, bản đồ Đô Thành Sàig̣n và vùng phụ
cận trước năm 1975, được đính kèm dưới đây.
Qua bài tổng hợp này, những điểm nổi bậc
đáng chú ư được ghi nhận như sau :
1.
Các trường Quốc Gia Cao Đẳng ở
Sàig̣n và Gia Định trước năm 1975 được
thành lập theo khuôn khổ các trường Quốc Gia Cao
Đẳng Pháp ,ngay cả tên hiệu cùa trường
cũng tới từ phiên dịch các tên trường Pháp. Điều
này rât dễ hiểu bởi v́ phần lớn các trường
này được thành lập bởi các giáo sư, kỹ
sư hay chuyên viên tốt nghiệp từ các trường
Quốc Gia Cao Đẳng Pháp hay từ các trường
thành lập ở Việt Nam vào thời Pháp thuộc . (Các mốc
năm tháng thành lập các cơ sở giáo dục và văn hóa bởi người
Pháp được ghi trong Phụ Lục ở cuối
bài ).
Chỉ vào khoảng cuối thập niên 60
và đầu thập niên 70, các trường Cao Đẳng
này bắt đầu tổ
chưc theo mô h́nh các đại học bách khoa
(polytechnic university) Hoa Kỳ
. Riêng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh từ năm 1971
đến 1975 , đă được sự hỗ trợ
của Phái Đoàn IPA ( Institute of Public Administration) , nhờ
vậy chương tŕnh học
luôn cải tiến ;
Các trường Quốc Gia Cao Đẳng
này là những trường danh giá (prestigieux) cấp đại
học duy nhất của miền Nam- Việt Nam (ngoại
trừ Trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật Sàig̣n bởi v́ vào năm 1957, có thêm trường Cao Đẳng
Mỹ thuật Huế ở Huế ) ;
Các sinh viên được nhận vào
thường là các học sinh rất gịi về các môn khoa học
như Toán, Lư Hóa, Vạn Vật… và phải qua các cuộc
thi tuyển rất khó khăn trong hằng ngàn thí sinh dự
tuyển. Ngoài ra, để được nhận vào
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n hay Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh, các thí sinh c̣n phải có khiếu
nghệ thuật hay có năng khiếu chính trị theo dỏi thời
cuộc, lưu tâm đến hiện h́nh đất nước
hay t́nh h́nh thế giới ;
2.
Giám đốc đầu tiên của
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n là ông
Lê Văn Đệ. Ông tốt nghiệp khóa 1 trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương năm 1930 và đi tu nghiệp tại trường
Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Pháp (École Nationale
Supérieure des Beaux Arts). Vào lúc 30 tuổi, ông được Ṭa Thánh La Mă (Vatican) bổ làm họa
sĩ cho Ṭa Thánh và được mời phụ trách một
nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ,
chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công tŕnh do ông chỉ đạo thực
hiện đă được báo chí , Pháp, và nhiều nước
trên thế giới đánh giá cao về phẩm chất
(qualité) tuy số lượng không nhiều. Ông được
ban thưởng Giáo Hoàng Bội Tinh ;
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Sàig̣n đă đào tạo được nhiều họa
sĩ khóa đầu thành danh như họa sĩ Trương Thị Thịnh,
Vũ Thị Ngà, Nguyễn Tánh
Đệ (Hiếu Đệ) , Thái Bá , Nguyễn Văn
Minh, Nguyễn Thanh Thu (điêu khắc gia), Lê Thành Nhơn
(điêu khắc gia) , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ
Hữu Thủ, Nguyễn Lâm … Và nhiều khóa kế tiếp
,các họa sĩ rất nổi tiếng như: nhà điêu khắc Lê Thành
Nhơn , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu
Thư, Nguyễn Lâm , Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn
Thị Hợp , Hồ
Thành Đức và nhiều họa sĩ nổi tiếng
khác ;
3.
Giáo sư , Bác sĩ Thú Y Vũ Ngọc Tân,
giáo sư Bác sĩ Thú Y Đặng
Quan Điện, giáo sư Lê Văn Kư và giáo sư Bùi Huy Thục
là “tứ trụ” xây dựng trường lớp, cư xá,
thư viện, giảng đường, nông trại…. cho trường Quốc gia Nông Lâm Mục Blao ;
Giáo sư Vũ Ngọc Tân , giám đốc
đầu tiên của trường Quốc Gia Nông Lâm Mục
Blao, thời sinh viên v́ học giỏi và có trách nhiệm với
công việc nên được giáo sư Patron, thầy của
ông Tân ở trường Cao Đẳng Thú Alfort (Pháp) ,thương
yêu đến nỗi gả con gái cưng cho ông . Bà này theo
chồng về Việt Nam ,dạy môn sử địa (chương tŕnh Pháp) ở trường trung học Pétrus Kư . Trong thời gian ở
trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, mặc dù không có
nhiệm vụ, Bà cũng chăm lo cho sinh viên, nhất là
môn thực hành ngoài trang trại, khi có sinh viên bị ốm
ngất xỉu, bà mang túi y tế ra tận hiện trường
để săn sóc tận t́nh như một người mẹ
;
4.
Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công
Nghệ có hai vị Giám Đốc Huyền Thoại :
a.
Ông Trần Văn
Bạch,kỹ sư Cầu Cống
khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris
- Pháp ( Kiều Lộ) ,là giám đốc đầu tiên của trường Quốc Gia Kỹ
Sư Công Nghệ Phú Thọ. Ông cho nhiều học sinh nghèo
ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại
Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng
không dùng đến hay trong khuôn viên của Nha Nha Kỹ Thuật và Mỹ
Thuật Học Vụ. Ông Bạch người miền Nam, rất
b́nh dị , khi nói chuyện với sinh viên , ông tự xưng là Qua " Qua
nói cho mấy em nghe…" ;
b. Ông Văn Đ́nh Vinh, kỹ sư Arts Et
Métiers và kỹ sư Điện ở Pháp, là giám đốc thứ hai . Trông ông rất bận
rộn, nhưng ông lúc nào cũng lo đầy đủ cho
trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ , cả những
việc không trong học vấn, như có lần ông cho lấy
chiếc xe autobus và tài xế của
Sở Hỏa Xa để chở sinh viên năm thứ I và
II đi Nha Trang chơi mùa Hè năm 1958. Chuyến đi nầy, ông c̣n lo
cho sinh viên có chỗ ở .
Năm sau, 1959, ông Vinh lại cho giấy xe lửa miển
phí đi Huế để sinh viên tự tổ chức du
ngoạn. Đó là 2 mùa Hè mà một
số sinh viên chắc không bao giờ quên .
5.
Trong số sinh viên xuất thân từ
trường Công Chánh có 3 người nổi tiếng yêu
nước lưu danh hậu thế . Đó là các ông Phan Văn Hùm (tốt ngiệp
năm 1922), Phó Đức Chính và Nguyễn Hiến Lê (tốt
nghiệp năm 1934). Ngoài ra, một trong những sinh viên của
trường, ông Trần Văn Mẹo vào thời
Đệ Nhất Cộng Ḥa làm Bộ Trưởng Công
Chánh kiêm Bộ Trưởng Kinh Tế (1955-1956) ;
6.
Trường Cao Đẳng Hàng Hải đă đào tạo được
một số sinh viên sau
này giữ những chức vụ
tối cao của miền Nam Việt Nam, điển
h́nh có :
a.
Ông Nguyễn Văn Thiệu là một Tướng
lănh của Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và
cũng là vị Tổng Thống của Đệ Nhị
Cộng Ḥa Việt Nam ;
b.
Các Đề Đốc Trần Văn
Chơn, Chung Tấn Cang, Lâm Nguơn Tánh, Đại Tá Hồ Tấn
Quyền, Đại Tá Đặng Cần Chánh.... là các chỉ huy cao cấp của
binh chủng Hải Quân,quân lực Việt Nam Cộng Ḥa ;
Ngoài ra c̣n có ông
Nguyễn Hùng Trương sau là chủ nhà sách Khai Trí và
Thuyền Trưởng Phạm
Ngọc Lũy ngày 30/4/1975 đă lèo lái con tàu Trường
Xuân với gần 4,000 thuyền nhân ra khơi ;
7.
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh cũng đă đào tạo được một
số sinh viên sau này nắm giữ những chức vụ
quan trọng trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng
Ḥa.
a.
Trong ngành Hành Pháp có Thủ Tướng Nguyễn
Bá Cẩn, các tổng trưởng : Bửu Viên (Nội Vụ), Châu Kim
Ngân (Bộ Tài Chánh), Vũ Công
(Lao Động), Bà Lư Hoa (Tổng
Giám Đốc Ngân Khố ) ...và các Đốc Sự Phó
Quận Trưởng, Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng
;
b.
Trong ngành Lập Pháp có Chủ Tịch Hạ
Viện Nguyễn Bá Cẩn,các Thượng Nghị
Sĩ: Hoàng Xuân Hào và Lê Châu Lộc, các Dân Biểu : Phạm
Duy Tuệ , Nguyễn Văn Quí , Nguyễn Văn Tiết,
Lê Tấn Trạng, Trương Vỹ Trí .
01- Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ -
Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành,
Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n
Theo tài liệu [1,2,3,4] : Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, đă được thành lập
vào tháng 6 năm 1957, theo sắc lệnh số 213-GD ngày
29/6/1957 của Tổng Thống
Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm.
Huy hiệu Trung
tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ - H́nh
trích từ tài liệu [1]
Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú
Thọ tọa lạc trên một khu đất
rộng hơn 10 mẫu tây (14,5 mẫu theo tài liệu [5]), mặt
trước ngó ra đường Nguyễn Văn Thoại, hai bên là
đường Tô Hiến Thành, đường Bắc Hải và một con đường sau lưng không tên,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sài g̣n. Đối diện với
Trung Tâm là cư
xá Lữ Gia gần bên trường đua Phú Thọ ,đằng sau là cư
xá Bắc Hải và nghĩa địa Chí
Ḥa.
Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú
Thọ
v́ nằm trong khu Phú Thọ nên
thường được
gọi là Trường
Kỹ Thuật Phú Thọ hay
Trường Kỹ Sư Phú Thọ.
Cổng trước
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ đường
Nguyễn Văn Thoại bên cư xá Lữ
Gia - Năm 1986 - H́nh trích từ
tài liệu [2]
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nh́n từ đường Tô Hiến Thành gần cổng sau -
Năm 1986 - H́nh
trích từ tài liệu [2] - Sau năm 1975,ven đường được
trồng khoai ḿ và rau
muống
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ chụp ở đường Tô Hiến Thành – Năm 1986
- H́nh trích từ tài liệu
[2]
Văn pḥng
Hiệu Trưởng (Giám
đốc), pḥng Tổ Chức ,Tài Vụ…- Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [2]
Vào năm
1957 ,Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ được thành lập từ việc tổng hợp của 4 trường, đó là:
1.
Trường
Cao Đẳng Công Chánh : Nguyên thủy
được thành lập vào năm
1904 (hay 1911) tại Hà Nội . Đến năm 1947, trường được tái lập ở Sàig̣n. Trường đào tạo cả 2 bậc kỹ sư và
cán sự ;
2.
Trường
Cao Đẳng Hàng Hải :
Ch́nh thức thành lập vào năm 1951, đào tạo Chỉ huy thuyền
trưởng và cấp cán sự
cơ khí.
3.
Trường
Cao Đẳng Công Nghệ được
mở ra vào năm 1956 và được chính
thức hóa vào
năm 1957. Trường đào tạo cấp kỹ sư cho các
ngành Công Kỹ Nghệ.
4.
Trường
Cao Đẳng Điện Học : Thành lập vào năm
1957, đào tạo
2 cấp : kỹ sư và cán
sự.
V́ học tŕnh của các trường cao đẳng trực thuộc của Trung tâm giáo dục này khác nhau,
nên bắt đầu niên học 1958, Bộ Quốc
Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa điều chỉnh lại để cả ba ngành công
chánh, công nghệ và điện
học để
đều đào tạo kỹ sư 4-5 năm học hoặc cán sự 2 năm học.
Năm
1960, Trường Bách Khoa Trung Cấp xây cất xong trong khuôn viên
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, thu nhận
khóa đầu tiên theo học, gồm học sinh các Trường
Cao Thắng và Thực Nghiệp thi tuyển vào ( theo tài liệu [6] ).
Năm 1962, trường Cao Đẳng Hóa
Học được thành lập trong khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật. Vào những năm đầu , trường này mặc
dầu mang tên Cao Đẳng nhưng chỉ đào tạo cán sự hóa học. Tới
năm 1968, trường được nâng lên bậc Cao Đẳng.Bên cạnh việc
đào tạo cán sự hóa học
, trường c̣n đào tạo
kỹ sư hóa học.
Cũng vào năm 1962, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật được thành lập trong khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật (theo tài liệu [7,8] ). Trường này đào tạo giáo
sư đệ nhất cấp (giáo sư dạy nghề), thời gian
đào tạo 2 năm và giáo sư
đệ nhị cấp (giáo sư kỹ thuật)
cho các trường trung học kỹ thuật trên toàn cơi miền
Nam Việt Nam.
Từ sau
năm 1974, các trường Cao Đẳng Công Chánh , Cao
Đẳng Công Nghệ, Cao Đẳng Điện Học và Cao Đẳng Hóa Học chỉ
đào tạo kỹ sư, không đào tạo cấp
cán sự.
Hơn 20.000 mét vuông (2 mẫu) trong khuôn viên
rộng 10 mẫu của Trung
tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ , được xử
dụng để xây
dưng bảy ṭa nhà hai và ba tầng
gồm văn pḥng, lớp học giảng đường,
thư viện, các pḥng thí nghiệm và và riêng các cơ xưởng công nghệ
rộng hơn 6000 mét vuông, theo số liệu năm 1972.
Theo tài liệu [9] : Trung Tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ
cũng có khu thể thao, thiết kế ban đầu dành
cho 1.600 sinh viên của tất cả các hệ và 200 cán bộ,
nhân viên, giáo sư.
Theo tài liệu [2] : Các giáo sư
giảng dạy tại Trung Tâm Quốc Gia Kỹ thuật
Phú Thọ được tuyển chọn, theo công bố
năm 1972 th́ cấp Giảng nghiệm viên (nay gọi là trợ
giảng) cần có bằng Cử nhân hoặc Bachelor , cấp
Giảng sư hay Giáo sư cần
có bằng Cao học Khoa học hay
bằng Master hoặc văn bằng cao hơn cấp
Tiến sĩ kỹ sư hoặc Tiến sĩ quốc
gia, hoặc Ph.D.
Sau đây là danh sách các vị Giám Đốc Trung Tâm Quốc Gia
Kỹ Thuật từ lúc mới thành lập đến
năm 1975 (theo tài liệu [10] ) :
Lê Sĩ Ngạc Kỹ Sư Kiều Lộ: 1957-1964;
(Phụ chú : Ông Lê Sĩ
Ngạc c̣n là giám đốc trường Cao Đẳng Hóa
Học năm 1962-1963);
Nguyễn Chánh Kỹ Sư Bách Khoa, Kỹ Sư Kiều
Lộ : 1964- 1965 ;
Lê Sĩ Ngạc Kỹ sư Kiều Lộ : 1965-1968;
Phan Ngọc Thế MSCE, Ph. D : 1968-1969;
Bùi Tiến Rủng MSCE, Ph. D : 1969-1971;
Nguyễn Ngọc Thịnh Tiến Sĩ
Kỹ sư Thủy Lợi : 1971-1972;
Phạm Hửu Hiệp
Tiến sĩ khoa học : 1972-1973;
Đặng Lương Mô Tiến sĩ kỹ sư Điện:
1973-1974;
Nguyễn Thanh Toàn Kỹ
sư Công Chánh,MSCE,
Ph. D : 1974-1975 .
Điều kiện để dự thi vào
Trường: Thí sinh
phải có Tú Tài Toán, hoặc Tú Tài Kỹ Thuật Toán hay một văn bằng tương đương. Tất cả thí sinh
sẽ qua một kỳ thi tuyển
gắt gao, thi
cùng môn với nhau, khi ghi danh
sẽ chọn từng ban học nhưng sẽ thi chung, đến
khi sắp hạng trúng tuyển th́ được sắp theo từng ngành học (tức là các
Trường trực thuộc
Trung tâm là Công Chánh,
Công Nghệ, Hàng Hải,
Điện, Hóa). Thí sinh thí
hai môn chính
là Toán và
Lư Hóa, thời gian thi là 4 tiếng.
Ngoài ra sinh viên có
Tú Tài Kỹ thuật
muốn ghi danh thi vào
trường Quốc Gia Công Nghệ th́ sẽ được
sắp hạng riêng nhưng phải thi thêm môn Kỹ
nghệ họa (theo tài liệu [2] ).
Sinh viên kỹ thuật thường có chương tŕnh học rất nặng. Hàng tuần phải học tới 40 tiếng đồng hồ, cần có những
sinh hoạt giải trí, thể thao, văn nghệ xă hội, nên
Trung tâm có một Phụ tá Sinh viên vụ đặc
trách vấn đề này.
Thời gian học cho bậc Kỹ
Sư là từ 4 đến 5 năm tùy theo
ngành và ban Cán Sự là
2 năm.
Trong lúc học,
sinh viên học cấp kỹ sư, và sinh viên
cấp cán sự từ năm thứ 2, đều bắt buộc có 1-2 tháng tập sự (nay gọi là thực tập)
tại các công ty như Điện lực Việt
Nam, Xi măng Hà Tiên, hay Đài
Truyền h́nh. Thời gian tập sự đó giúp sinh
viên hiểu rơ hơn về
môi trường làm việc trong tương lai. Sau mỗi kỳ tập sự, sinh viên phải
làm một bản phúc tŕnh gửi về trường để chấm điểm.
Sau đại học,
sinh viên tốt nghiệp ưu tú, hay những ai có mong muốn học tiếp th́ sẽ được
nhà trường giới thiệu với các đại
học nước ngoài.
Theo tài liệu [11] : Trước năm 1975, tuy đất nước trong thời chiến tranh, nhưng cũng có một số
chuyên viên đă được chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho đi tu
nghiệp tại những quốc gia khác.
Đến năm 1972 ,thời Đệ Nhị Cộng
Ḥa, Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ được
nâng cấp , đổi tên thành Học Viện
Quốc Gia Kỹ Thuật, rồi sau đó vào năm 1974 thành Trường
Đại học Kỹ Thuật là
cơ sở duy nhất đào tạo kỹ sư và cán sự
tại miền Nam.
Cũng trong năm 1974 này , Trường Đại
học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật
hay Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ ) được gom vào thành một
thành phần của Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ
Đức (Thủ Đức Polytechnic
University, gọi tắt
là Thủ Đức
Poly) ở Thủ Đức,tỉnh Gia Định.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Theo tài liệu [12] : Rất tiếc, miền Nam mất nước ngày
30/4/1975 ,kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch
phát triễn đại học theo hướng của các
quốc gia tân tiến.
Tính đến năm 1975 th́ trường Cao Đẳng
Điện Học đào tạo được 890 chuyên
viên, trường Cao Đẳng Công Chánh, 2000 (1902-1975) và
trường Quốc gia Kỹ sư Công Nghệ đă
đào tạo được khoảng 700 chuyên viên.
Những kỹ
sư, cán sự tốt nghiệp Trung Tâm Quốc Gia kỹ
thuật các ngành nói trên, nếu thi hành nghĩa vụ quân sự,
vào trong quân ngũ có thể phục vụ tại những
ngành Công binh, Quân cụ, Quân nhu,Truyền tin, hoặc các
cơ xưởng kỹ thuật của các binh chủng lục
quân, hải quân,không quân. Ngoài ra c̣n một số người
làm việc cho những cơ sở của tư nhân.
Sau 30/4/1975,theo quyết định số 426-Ttg ngày 2 tháng 10 năm 1976 của tên thủ
tướng ngụy quyền cộng sản (Sic), trường
Đại học Phú Thọ được đổi tên
thành Trường đại học bách khoa với những
ngành học chính như: cơ khí, điện, điện tử,
xây dựng công tŕnh dân dụng và công tŕnh công nghiệp, giao
thông vận tải, thủy lợi, hoá kỹ thuật, công
nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ... Trường
do Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp (ngụy
quyền cộng sản) quản lư.
Tài liệu tham khảo :
1.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn
bằng tốt nghiệp ở miền
Nam trước 1975.
2.
https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/ Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật
Phú Thọ của Sài G̣n
xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net .
3.
GS.
Huỳnh Công Ân - Các trường
Đại học ở
miền Nam trước
1975 (Phần 1) .
4.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm
Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ .
5.
https://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html Lịch
Sử Trường Quốc Gia
Thương Mại – Sài G̣n
- Trường Quốc Gia Thương Mại- Sài G̣n (École Nationale De Commerce de Saigon) - Saturday,
January 11, 2014 .
6.
https://ahvinhnghiem.org/caodangspkt.html Trường
tôi ( 2 ) - Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật
-21-2-2009 .
7.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
8.
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.500393113305488&type=3 Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật ngày xưa - 24/09/2012.
9.
http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ
Khoa Học và Công nghệ
- Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM .
10. file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/kyyeu%20Cong%20Ch%C3%A1nh%20Phan2.pdf Kỷ
Yếu Công Chnah Phần Hai-Danh sách Giám Đốc
Trường , Giáo sư và Sinh Viên.
11. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ai-huu-cong-chanh-mung-tan-nien-tai-little-saigon/ Ái Hữu Công
Chánh mừng Tân Niên tại Little Saigon - Lâm Hoài Thạch/Người Việt March 20, 2022.
12. GS. Huỳnh Công Ân
– Các trường Đại
Học ở miền Nam trước
1975 (Phần 1).
02- Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức –
Quận Thủ Đức-Tỉnh Gia Định
Sau đây là
sơ lược việc thành lập Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức theo tài liệu
[1,2,3,4] :
(Ông Đỗ Bá Khê sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất
năm 2005 tại Hoa Kỳ ; Tiến
sĩ giáo dục (Viện Đại học Southern
California); Thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục,
và Thanh Niên thời Đệ
Nhị Cộng Ḥa. Ông là viện trưởng sáng lập và
là người đích thân hướng dẫn việc thiết
kế và xây dựng Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức. Ông c̣n là người đă thiết lập hệ
thống các trường đại học cộng đồng
ở miền Nam Việt Nam) .
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
là một cơ sở giáo dục đại học đa
ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành
thực tiễn (như kỹ thuật, nông nghiệp,
lâm nghiệp, thú y) , đây là điểm khác biệt giữa
mô h́nh "viện đại học bách khoa" và mô h́nh
"viện đại học".
Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức được thành lập dựa
theo mô h́nh các polytechnic university ở tiểu
bang California, Hoa Kỳ, thời đó như :
California Polytechnic State University ở San Luis Obispo và California
State Polytechnic University ở Pomona.
Vào năm 1974 , do bởi Sắc lệnh số
010-SL/VHGDTN do Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm kư
ngày 11 tháng 01 năm 1974 ,trường Đại
Học Kỹ Thuật (
trước đó tên là Học viện Quốc Gia Kỹ
Thuật,nguyên thủy là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Phú Thọ) được sáp
nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Toàn được cử làm
Khoa Trưởng Trường Đại Học Kỹ Thuật.
Trong thời gian đầu, Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức có các trường đại học
chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục
Kỹ Thuật, Khoa Học,Kinh Tế-Quản Trị và Thiết Kế Đô thị;
Ngoài ra c̣n có trường đào tạo sau đại học.
Theo dự kiến, các cơ sở giáo dục đều
gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo
một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận,
với một cảnh trí được thiết kế nhằm
nâng cao óc sáng tạo; quản lư hành chính tập trung để
tăng hiệu năng và giảm chi phí.
Hạt mầm của Viện Đại Học Bách Khoa
Thủ Đức là đề án Làng Đại học Thủ
Đức của Viện Đại Học Sàig̣n được
chính phủ thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa soạn ra vào tháng 1 năm 1961.
Đây là một phần trong quy hoạch tổng thể
đô thành Sàig̣n và kế hoạch kiến thiết
quốc gia. Theo kế hoạch đó th́ các Trường
Đại học Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật
Khoa, và Trường Cao Đẳng Kiến Trúc sẽ dời
lên Thủ Đức. Riêng Trường Đại học
Y Dược sẽ được giữ lại ở Sài
G̣n.
Hai kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và Lê
Văn Lắm được giao thiết kế Làng
Đại học Thủ Đức trên diện tích
3 cây số vuông bao gồm các cơ sở hành
chánh, thư viện,sân vận động, cư xá sinh
viên, và 300 ngôi nhà (căn biệt thự ) dành cho giáo sư và
nhân viên.
Theo tài liệu [5,6] : Làng Đại
học Thủ Đức được phân chia theo ô bàn cờ
,đường ngang lối dọc, rợp bóng cây xanh . Những
ngôi biệt thự, giấu ḿnh dưới tán cây xanh, là
nơi ở của các giáo sư đại học v́ vậy
từ bố trí , thiết kế, xây dựng đến
đặt tên đường cũng mang nét riêng, như gửi
gắm, hy vọng hướng đến cái đẹp,
nhân văn, như đường Công Lư, Tự Do, Bác Ái, Dân
Chủ, Ḥa B́nh… Mỗi khuôn viên biệt thự dành cho giáo
sư có không gian riêng biệt ,diện tích từ 900 đến 2.200 thước vuông . Biệt thự
được xây thấp vuông vắn, kiến trúc
đa dạng về h́nh thức, theo phong cách, sở thích của
người mua . Biệt thự nào cũng có vườn thật rộng
trồng cây xanh mát. Gia đ́nh giáo sư Lư Chánh Trung mua một biệt thự với giá 300.000
đồng và trả góp 15 năm .
V́ t́nh h́nh chiến tranh, dự án này bị đ́nh trệ
và sau đó chỉ thực hiện một phần để
lập ra Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức với khuôn viên chính rộng 600 mẫu
tây nằm ở quận Thủ Đức, cạnh xa lộ Biên Ḥa và xa lộ Đại Hàn .
Sơ đồ
Làng Đại Học
thuộc Viện Đại
học Sài G̣n dự kiến
xây dựng ở Thủ Đức
Viện
Đại học Bách khoa Thủ Đức
gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó
có 3 trường đă tồn tại và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số
1, 2 vả 3) và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường
Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú
Thọ (1957), bao gồm
Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng
Điện Lực, Trường Kỹ
Sư Công Nghệ, và
Trường Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường
Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc
Gia Nông-Lâm-Súc, rồi
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường
Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật Nguyễn
Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường
Đại học
Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết
tắt của
"Kinh tế và
Thương mại");
5.
Trường
Đại học
Khoa học Cơ bản ;
6.
Trường
Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn"
là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");
7.
Trường
Sau Đại học
(College of Graduate Studies),
điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học
và Tiến sĩ.
Rất tiếc,
miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự
tan vỡ của một kế hoạch phát triễn đại học theo hướng của các quốc gia tân tiến.
Sau năm 1975, ngụy quyền
cộng sản giải
thể Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức và chia
thành nhiều cơ sở đơn lẻ theo mô h́nh phân tán
ngành học của Nga
Sô
, trong đó có Trường Đại học
Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (Sic) , Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (Sic) và Trường Đại học
Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Sic) .
Tài liệu tham khảo :
1.
GS. Huỳnh Công Ân - Các trường Đại
học ở miến Nam trước 1975 (Phần 1).
2.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%C3%A1ch_khoa_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Viện Đại học Bách khoa
Thủ Đức
3.
https://hoamunich.wordpress.com/2019/02/26/he-thong-giao-duc-truoc-1975/ Hệ
Thống Giáo Dục trước 1975- Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức.
4.
https://suphamk2dalat.wordpress.com/2012/09/14/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc-nam-1975-nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong/ Nền Giáo Dục của chế độ Việt
Nam Cộng Ḥa (Phần 2)- Sự tiếc nuối vô bờ
bến -Tháng Chín 14, 2012 bởi sưphạm ÁONÂU Đalạt .
5.
https://www.sggp.org.vn/tu-lang-dai-hoc-den-do-thi-tri-thuc-post583955.html
Trần Yên - Từ làng đại học
đến đô thị tri thức - SGGP 14/02/2021.
6.
https://tuoitre.vn/sai-gon-nho-nho-thuong-thuong-ky-6-nho-lang-dai-hoc-thu-duc-2020103110211294.htm - Phạm
Vũ - Sài G̣n nhớ nhớ thương thương - Kỳ
6: Nhớ làng đại học Thủ Đức .
03- Trường Cao Đẳng Công Chánh -
Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành,
Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sài g̣n
Trường Cao Đẳng Công Chánh, do bởi Sắc Lệnh
năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,
được chuyển dời và sau đó trực thuộc
thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục
Việt Nam Cộng Ḥa. Trường nằm trong khuôn viên của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ
, đường Nguyễn Văn Thoại và đường Tô Hiến Thành,thuộc
phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n.
Sau đây là sơ lược thành lập Trường
Cao Đẳng Công Chánh theo tài liệu [1,2,3,4] :
H́nh thành :
Năm 1898, Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông
Dương và các Ty, Sở Công Chính được thành lập.
Với mục đích đào tạo người Việt
giúp việc cho các cơ quan Công Chính, tháng 2 năm 1902,
người Pháp thành lập "ngạch sự chuyên môn bản
xứ ngành Công Chính " và
đến tháng 6 cùng năm, các lớp đào tạo nhân
viên cho ngành Công Chính được bắt đầu.
Trường Công Chính đầu tiên đặt tại Hà Nội
có tên Trường Thư kư và Cán sự Chuyên Môn Công
Chính (École des Secrétaires et Agents Techniques des Travaux Publics) và do
Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông Dương điều
hành.
Nhưng theo tài liệu [5] viết bởi ông Trần
Sĩ Huân ,kỹ sư Công Chánh kḥa 2 Công Chánh : Trường
Công Chánh được lập ra dưới thời Pháp
thuộc vào năm 1904 tại Hà Nội, tên là École des Travaux
Publics để đào tạo nhân viên thừa hành không
tương đương với cấp bậc nào của
các trường chuyên môn ở Pháp.
Năm 1913, trường Công Chính được cải
tổ theo Nghị định 1015 ngày 15 tháng 4 năm 1913 của Toàn Quyền Đông Dương
Albert Sarraut và trường được đổi tên là
Trường Công Chính (École des Travaux Publics) . Trường
đóng tại Hà Nội, vẫn trực thuộc Nha Tổng
Thanh tra Công Chính Đông Dương. Học sinh được
nhận vào, miễn thi nếu có văn bằng Cao Đẳng
Tiểu Học. Sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ
được bổ dụng ngạch Cán sự Chuyên môn bậc
1 hạng 4.
Năm 1917 (1911 theo tài liệu [1] ) , Toàn quyền
Đông Dương tái lập trường Viện Đại Học Đông
Dương tại Hà Nội,
trường Công Chính được nâng lên thành Trường
Cao đẳng Công Chính Đông Dương (École
Supérieure des Travaux Publics de l’Indochine), với chương
tŕnh học 2 năm, điều kiện thi tuyển
cũng như trước nhưng các sinh viên tốt nghiệp
được tuyển vào ngạch Cán sự Công Chính tập
sự, sau 2 năm th́ được thi lên hạng 4.
Trường lúc này trực thuộc Tổng Nha Học Chính
Đông Dương.
Theo tài liệu liệu [5] :
Năm 1917 , trường Công Chánh được tổ chức
lại cùng 7 trường chuyên môn khác là Y khoa, Thú Y, Sư Phạm,
Canh Nông, Thương Mại, Kiến Trúc, Luật dưới
danh hiệu Études Supérieures trực thuộc Nha Giáo Dục
Đông Dương do Toàn Quyền Albert Sarraut thành lập.
Sinh viên phải có bằng diplôme (Trung Học Đệ
Nhất Cấp) và phải qua một kỳ thi tuyển chọn
(concours) , mỗi trường khoảng 30 người. Sau
3 năm học, sinh viên Công Chánh tốt nghiệp được
gọi là Cán Sự Công Chánh (Agent Technique des Travaux Publics) .
Năm 1922, mở thêm lớp Cao Đẳng (Cours
Supérieurs) một năm và chọn 5 sinh viên đỗ đầu
Ban Cán Sự vào học để thi ra Agents Voyers des Travaux
Publics (Công tŕnh sư Công Chính) và một ngạch Tây
(Cadre métropolitain) gọi là Adjoint Technique.
Lớp này được dạy tại Trường
Khoa Học Thực Hành và chỉ dành cho các Cán sự chuyên
môn Công Chính tốt nghiệp với số điểm trung
b́nh 13 trở lên hoặc có 4 năm công vụ và thi đỗ
từ hạng 10 trở lên. Thời gian học là 12 tháng với
chương tŕnh gần giống chương tŕnh đào tạo
kỹ sư Công Chính tại Pháp thời bấy giờ. Các
sinh viên đỗ được cấp văn bằng
Diplôme d’Études Supérieures, École des Sciences Appliquées- Section du Cours
Supérieur des Travaux Publics và được bổ nhiệm vào
ngành Công Tŕnh Sư tập sự, sau 4 năm làm việc
được dự thi vào ngành Công Tŕnh Sư Thực Thụ.
Năm 1925, trường Cao Đẳng Công Chính
đưa thêm môn học Địa Chính và Địa Dư
vào chương tŕnh để đào tạo các cán sự
chuyên môn người bản xứ cho các Sở Công Chính,
Địa Chính và Địa Dư. Thời gian học
tăng lên 3 năm. Sinh viên tốt nghiệp được
cấp " Văn bằng tốt nghiệp lớp Cao
đẳng trường Đại học Khoa Công Chính
" (Diplôme Supérieur de l’Université avec mention École des Travaux
Publics) và được bổ nhiệm vào ngạch Cán sự
Công Chính tập sự, sau 2 năm làm việc sẽ
được bổ dụng vào ngạch Cán sự Công
Chính hạng 4.
Năm 1928, trường Khoa học Thực Hành bị
băi bỏ, lớp Công tŕnh sư Công Chính được sáp
nhập vào Trường Cao Đẳng Công Chính.
Năm 1931, Trường Cao Đẳng Công Chính tạm dừng
tuyển sinh vào các lớp đào tạo Cán sự chuyên môn.
Bằng Cán Sự Công Chánh Đông Dương
1934 - H́nh trích từ tài liệu
[1]
Năm 1938, trường mở lại lớp đào tạo này cho các
ngành Công Chính, Địa
Chính và Địa Dư. Chỉ có những
thí sinh có văn bằng
Cao đẳng Tiểu học
hay tương đương mới được dự thi và khoá
học kéo dài trong 3 năm.
Sinh viên tốt nghiệp được
cấp bằng Tốt Nghiệp Cán sự Công Chính và được bổ dụng vào ngạch tập sự.
Theo tài liệu [5] : Năm
1941, mở Trường Kỹ
Sư Công Chánh (ingénieur Indochinois des Travaux
Publics) 4 năm tuy nhiên v́ Thế
chiến Thứ Hai xảy ra ở Pháp thiếu
chuyên viên nên năm 1943, Nha Tổng Thanh Tra Công Chánh (Inspection Générale des
Travaux Publics de l’indochine) mới
tổ chức kỳ thi kỹ
sư chuyên nghiệp đầu tiên (ingénieurs Professionnels) tại
Hà Nội, có chừng 150 người dự thí gồm các
cán sự, agent voyer , adjoint
technique trên 10 năm thâm niên công
vụ. 24 người
trúng tuyển kỳ thi này
trong đó có cụ Khúc Đản
(1903) , cụ Trần Văn Mẹo (hạng
nh́), cụ Trần Đăng Khoa (hạng nhất). Cụ Khúc Đản hiện
nay (năm nào không rơ
?) sống ở Paris và
rất hăng hái tham gia
các hoạt động ái hữu » .
Cụ Trần
Văn Mẹo vào thời
Đệ Nhất Cộng Ḥa làm Bộ Trưởng
Công Chánh kiêm Bộ Trưởng Kinh Tế
(1955-1956). C̣n cụ
Khoa ra Bắc làm Bộ Trưởng Công
Chánh (1946-1954).
Lớp Công Tŕnh
Sư khoá 1943-1944 được cải đổi thành lớp đào tạo Kỹ sư Công Chính Đông Dương.
Đến năm
1945, khi quân đọi
Nhật đảo chính
Pháp, trường Cao đẳng
Công Chính tại Hà Nội phải đóng cửa.
Theo tài liệu [5] : Trong số
sinh viên xuất thân từ trường Công
Chánh có 3 người
nổi tiếng yêu nước lưu danh hậu
thế
. Đó là
các ông Phan
Văn Hùm (tốt ngiệp
năm 1922), Phó Đức
Chính và Nguyễn Hiến
Lê (tốt nghiệp năm 1934).
Tái lập tại miền Bắc Việt Nam :
Nngày 15 tháng
11 năm
1945, khai giảng năm học đầu tiên của Trường Cao đẳng
Công chính dưới chính thể Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà (Sic).Ngày 13 tháng 4 năm 1946, trường mang tên Trường Đại học Công chính theo Sắc
lệnh số 50 (của cộng sản).
Tái lập tại miền Nam Việt Nam - Trường Cao
Đẳng Công Chánh
Theo tài liệu [5] : Măi đến tháng 7 năm 1947, Trường
Cao Đẳng Công Chính mới được mở lại ở Sàig̣n và chỉ dành
cho Ban Trung Đẳng.
Nhưng v́ thiếu trụ sở nên trường
phải di chuyển nhiếu nơi.
Theo tài liệu [1] : Đến
năm 1947 ,Trường
Cao đẳng Công Chính được
tái lập tại Sàig̣n và đặt trụ sở tại Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, tọa lạc số 48 ,đường Phan
Đ́nh Phùng quận 1-Sài g̣n.
Mặt khác,tài liệu [2] : Đến năm 1947, Trường Cao Đẳng Công
Chính được tái
lập tại Sài G̣n và
đặt trụ sở tại Trường
thực nghiệm Bộ Công Chánh và trường trung học Pétrus Kư.
Theo tài liệu l [5] : Năm 1949,trường được đặt
tạm ở trường
Luật nằm trên đường Duy
Tân (thời Pháp tên là đường là Garcia ), sau đó
một tháng th́ dời lên
lầu tư Tổng Nha Công Chánh ở số
55,đường Pasteur. Cho đến đầu năm 1950 mới chính thức dọn đến
trường mới
cất xong trong khuôn viên
trường trung học Petrus Kư,đường
Nancy (sau là đường Cộng Ḥa).
Đến năm
1950, chính phủ Pháp chuyển giao trường lại cho chính quyền
Quốc Gia Việt Nam theo phụ ước ngày 30 tháng 5
năm
1950, Kỹ Sư Trần
Văn Bạch được cử giữ chức Giám đốc trường từ năm 1950 đến 1954 và trường được
đổi tên thành Trường Cao Đẳng Công Chính Việt
Nam.
Theo
tài
liệu [1] : Ông
Trần Văn Bạch tốt nghiệp kỷ sư khóa
1935 của École
National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .
Theo tài liệu [6,7] : Ông Trần Văn Bạch là sáng Lập Viên và Giám Đốc
Trường Việt Nam Hàng Hải. Ông vừa làm Giám Đốc
vừa làm Giáo sư Tóan
cho ban Chỉ Huy (Pont) .
Theo tài liệu [1] :
Ông được
mời làm Tổng Trưởng Công
Chánh và Giao Thông Vận Tải
trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông
cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú
ngụ trong mấy cái xưởng
không dùng đến.
Vì sự
quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật thực tế ở Miền
Nam, ông rời bỏ chức vụ
Tổng Trưởng
Công Chánh và Giao Thông Vận Tải để đãm nhiệm chức vụ Giám
Đôc Nha Kỹ Thuật
Học Vụ, tiền
thân của Trung Tâm
Quốc Gia Kỹ Thuật Phú
Thọ.
Ông Bạch
chẳng những
là Giám Đốc
các trường
Cao Đẳng , ông
còn là giáo
sư thỉnh giảng của trường Đại
học Khoa Học, Trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc…Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học
trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một
nhà giáo dục tận tâm,đã
đóng góp
to lớn cho nền giáo dục miền Nam nói riêng, và Việt Nam nói chung. Ông sinh
năm 1910, mất năm 1975.
Chương tŕnh
học lúc này vẫn áp
dụng theo Nghị định số 2027, ngày 8 tháng 8 năm 1944 và các Nghị
định bổ sung, các lớp
học gồm có:
Sau khi học xong lớp đệ II Trung
Đẳng, nếu tốt
nghiệp được
tối thiểu
12/20, sinh viên sẽ nhận được bằng
Cán Sự Công Chính.
Tháng 9 năm
1951, trường mở
lại lớp Cao đẳng để đào tạo Kỹ Sư Công Chính, lớp chỉ nhận những người có bằng Tú Tài II và tốt nghiệp
Cán Sự Công Chính với số điểm từ 14/20 điểm trở lên. Ngoại lệ cho những
khoá tốt nghiệp năm 1952, 1954 và 1955, lớp nhận thêm những sinh viên có một
trong 2 điều kiện trên v́ những năm đó, sinh viên đạt
2 điều kiện
trên là rất
ít. Trong thời gian này, trường
đào tạo được một số Kỹ Sư, Cán Sự
ngành Địa Chính và Địa Dư.
Bằng Kỹ Sư
Công Chánh thời Quốc
Gia Việt Nam 1949-1955 - H́nh trích từ tài liệu [1]
Trực thuộc :
Trong những
năm 1956-1957, do Sắc
Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,
trường chuyển
dời và sau đó trực
thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nằm ở góc đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến
Thành cùng với các trường Cao đẳng Điện, Công nghệ
Hoá Học và Hàng Hải.
Trường Cao Đẳng
Công Chánh - H́nh trích
từ tài liệu [1]
Khoá Kỹ
Sư Công Chính cuối
cùng thuộc quy chế cũ
tốt nghiệp năm 1961 và khoá Cán Sự
Công Chính tốt nghiệp
năm 1960.
Sau khi trực thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ, trường đào tạo 2 ban là Ban Cán Sự và Ban Kỹ Sư.
Đối với
Ban Kỹ Sư, kể từ năm 1958, trường chỉ nhận những thí sinh có bằng
Tú Tài Toàn Phần Toán (Tú Tài 2) hay Tú Tài Kỹ Thuật ban Toán vào thi, chương
tŕnh học trong 4 năm, sinh viên tốt
nghiệp được
cấp Văn Bằng Kỹ
Sư Công Chính hay Địa Chính từng môn học.
Bằng Kỹ Sư
Công Chánh 1961 thời Đệ Nhất
Cộng Hòa-Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ Sàig̣n - H́nh trích
từ tài liệu [1]
Ban Cán
Sự có những thay đổi đáng kể, ban đầu
(1957) thí sinh thi vào học
phải có văn bằng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông hay Kỹ thuật
và có chứng
chỉ học lớp Đệ Tam. Thời gian học là 3 năm, và 3 tháng hè
phải đi tập sự tại các Nha, Sở hay Ty Công Chính địa phương.
Thi tốt nghiệp phải đạt trung b́nh hơn
12 điểm mới
được cấp
phát văn bằng "Cán Sự Công Chánh" hay
"Cán Sự Địa Phương". Năm
1967, do kỹ thi Trung
học Đệ Nhất Cấp bị băi bỏ
nên thí sinh
phải có chứng chỉ Tú Tài I mới được vào thi, chương tŕnh học rút lại c̣n
2 năm. Đến năm 1973, kỳ thi Tú Tài I băi
bỏ, chỉ c̣n bằng Tú Tài II nên các
thí sinh phải có bằng
Tú Tài II mới được dự thi, chương tŕnh học kéo dài 2 năm.
Vào năm
1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật (Phú Thọ) đổi
thành Viện Đại
Học Kỹ Thuật
(Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật
- HVQGKT). Viện Đại
Học Kỹ Thuật
này bao gồm sáu (6) trường thành viên: Trường Cao
Đẳng Công Chánh, trường Cao
Đẳng Công Nghệ , trường
Cao Đẳng Điện Học, trường
Cao Đẳng Hóa Học, trường
Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng
hải) và Trường
Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.
Theo tài liệu [1] :
Đáng chú ý, trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn
Bản được
thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để
hỗ trợ cho năm trường
cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ
Thuật và Khoa Học
Căn Bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên
năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có
thể theo các ngành chuyên
môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng TúTài
2, ban B (Toán) hoặc
Tú Tài Kỹ thuật Toán của trường Trung
học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .
Và chỉ
khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ
Đức được thành lập theo
Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .
Sáp nhập :
Tiếp theo
đó ,vào ngày 11/01/1974 do bởi Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN, Học viện Quốc Gia Kỹ
Thuật ( trước
đó là Trung
Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))
sáp nhập vào Viện Đại Học Bách
Khoa Thủ Đức, với tên Trường Đại
học Kỹ thuật và chỉ đào tạo hệ đại học.
Tổ chức
dạy và học đối với ngành Công Chính được bố trí lại như
sau:
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường Đại học Kỹ Thuật
: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao
Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện
Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường
Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường Đại học Nông nghiệp:
Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học
Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường Đại học Giáo dục:
Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường Đại học Kinh
Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của
"Kinh tế và Thương mại");
5.
Trường Đại học Khoa học
Cơ bản ;
6.
Trường Đại học Thiết Kế
Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của
"Thành thị và Nông thôn");
7.
Trường Sau Đại học ( College
of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh
đào tạo bậc Cao Học và Tiến sĩ.
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Theo tài liệu [8] : Rất tiếc, miền Nam sụp
đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một
kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách
Khoa Thủ Đức theo
hướng của các quốc gia tân tiến.
Theo tài liệu [9] : Những chuyên
viên ngành Công Chánh Việt Nam Cộng Ḥa đă từng kiến
tạo và xây dựng những phi trường, xa lộ, cầu
cống, nhà máy điện…
Ngày xưa, các Ty Công Chánh của các tỉnh được
sự bảo trợ của Bộ Công Chánh, thành ra những
công việc điều hành xem như được khá trôi
chảy. Tuy nhiên, đôi khi cũng có bị trở ngại
v́ bọn cộng sản hay phá hoại những công tŕnh
đă và đang xây dựng hoặc những khu vực tỉnh
lộ giao thông.
Do bởi những cuộc phá hoại cầu cống,
nhân viên các Ty Công Chánh miền Nam Việt Nam thường phải làm việc
trong những nguy hiểm tới sinh mạng .
Và đây là một trường hợp tiêu biểu trích
từ tài liệu [5] : ‘’ Vào năm 1959, t́nh h́nh chung trên
toàn lảnh thổ miện Nam Việt Nam tương đối
yên tịnh nhưng tỉnh B́nh Dương đă bắt
đầu mất an ninh do việt cộng phá hoại cầu
đường về đêm gây trở ngại lưu thông
và ám sát các viên chức xă ấp để gieo kinh hoàng, gây áp
lực với dân chúng.
(Phụ chú : Vào năm này ,cái gọi là Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam chưa xuất đầu thế
mà bọn việt cộng đă khủng bố ,phá hoại
miền Nam !)
Công tác chính của Ty Công Chánh B́nh Dương là đại
tu bổ mỗi năm vào khoảng 5 cây số quốc lộ
13 và liên tỉnh lộ 14 , và tu bổ thường xuyên các
quốc lộ, liên tỉnh lộ, tỉnh lộ với 5
toán lộ phu, mỗi toán từ 6 đến 10 người.
khi công tác chữa phá hoại gia tăng, Ty có thêm một toán
đặc biệt, chiều nào trước khi trở về
nhà, toán này cũng phải chất một xe camion-benne đầy
ván gỗ và một xe canion plateau đẩy vày cầu sắt
Eiffel hoặc cống Bê tông đề đêm hôm có phá hoại
th́ sáng mai là toán đó sẳn sàng đến Tiểu Khu cùng
với một tiểu đội lính đi tái lặp
lưu thông.
Trong một cuộc hành quân tái lập Hội Đồng
Xă ở phía Nam Bến Súc, Ty Công Chánh cũng được
lịnh đi theo với xe cộ cơ giới để
ban đường sửa cống v́ đường Liên Tỉnh
14 từ Dầu Tiếng lên Bến Súc đă bị việt
cộng đào cai tăng lược,có đoạn bị
đấp mô hoặc chặt cây cản đường, có
đoạn cống bị phá sập. Công tác này rất nguy
hiểm v́ có thể việt cộng c̣n gài mỉn trong các
đống chà hoặc chôn ḿn dưới mô đất.
Để kéo chà, Ty phải lấy dây thừng dài quấn
quanh chà và buộc vào xe ban kéo đi.C̣n muốn ủi đất
th́ trước đó phải cho lính rà ḿn rồi mới cho
xe ủi đến làm việc. Những người tài xế
xe ban, xe ủi Công Chánh hồi đó thật là gan dạ,đáng
được tuyên dương ‘’.
Một trường hợp khác : ‘’… Vào khoảng cuối năm 1963
(?), trên đưởng đi Long Thành vô Nhơn Trạch, việt
cộng đào đường theo lối cài tăng lược
và đắp chà chận đường tiến quân của
Tiểu Khu . Tôi (tác giả tài liệu ) được lịnh
của Thiếu Tá Tiểu Khu Phó cho xe cơ giới đi
trước kéo chà và lấp đất c̣n Trung Tá Mă Thành
Nhơn thí bay trực thăng trên trời quan sát. Đến
khi vô gần quận lỵ Nhơn Trạch, tỉnh lộ
10, trong lúc Công Chánh đang đặt lại ống cống
bị phá hoại th́ việt cộng ở trong rừng phía
bên phải bắn ra,quân ta ở bên phải bắn lại
thế là Công Chánh bị kệt ở giữa.Anh em cai phu hốt
hoảng,tôi không biết làm ǵ hơn là cho anh em núp dưới
hố và đường mương, một lúc sau nghe tiếng
máy bay đến thả bom bên lề đường…Chờ
măi đến chiều th́ một Đại Uư đến
cho hay rút lui về một x̣m nhỏ, nơi tiểu Khu
đặt tạm pḥng hành quân…. Tôi kiếm được
một căn nhà gần đó, có đào sẳn một căn hầm ngay
giữa nhà,ở trên lót bộ ván dầy. Sau khi
thương lượng trả cho gia chủ một số tiền , tôi cùng một số nhân
viên Công Chánh vào nhà tạm
trú ,số c̣n lại ngủ
ngoài xe đậu bọc ung quanh nhà, hồi hộp sợ
pháo kích ‘’.
Theo tài liệu
[9] : Trước năm 1975, tuy đất nước
trong thời chiến tranh, nhưng cũng có một số
chuyên viên đă được chính phủ Việt Nam Cộng
Ḥa cho đi tu nghiệp tại những quốc gia khác.
Sau đây là danh sách các vị Giám Đốc Trường
Cao Đẳng Công Chánh trích từ tài liệu [10] :
Tên Học vị Thời
gian
Segas Kỹ sư Kiều
Lộ 1902-1915
Paul Bergue
Kỹ sư Kiều
Lộ 1915-1922
Favier Kỹ sư Kiều
Lộ 1922-1926
Girard Kỹ sư Kiều
Lộ 1926-1926
Connan Kỹ
sư Kiều Lộ 1926-1934
* Dừng
tuyển sinh 1931-1938
Paul Jarry Kỹ
sư Kiều Lộ 1938-1945
* Đóng
cửa v́ chiến tranh 1945-1947
Francois Guyau Kỹ sư Kiều Lộ 1947-1950
Trần Văn Bạch Kỹ sư Kiều Lộ 1950-1954
Trần Văn Sách Kỹ sư Cao đẳng
Điện học 1954-1957
Lê Sĩ
Ngạc Kỹ sư Kiều Lộ 1957-1964
Nguyễn Chính Kỹ sư Bách Khoa, KS. Kiều
Lộ 1964-1965
Nguyễn Thanh Toàn Kỹ sư Công Chính, MSCE 1965-1966
Nguyễn Ngọc Thịnh
Tiến sĩ,
Kỹ sư Thủy Lợi 1966-1972
Nguyễn Triệu
Đồng Tiến sĩ, Kỹ sư Thủy Lợi 1972-1973
Nguyễn Đức
Thịnh Tiến sĩ, Kỹ sư Thủy Lợi 1973-1974
Nguyễn
Đức Chí Kỹ Sư
Công Chính, MSCE 1974-1975
(Phụ chú : Sau năm 1975, dưới thời bọn ngụy quyền cộng sản , đi làm
Thủy Lợi đồng
nghĩa với làm
việc khổ sai ).
Theo tài liệu [11] : Tổng
số giáo sư, giảng viên của trường Cao Đẳng
Công Chánh là 2000 người Và theo tài
liệu [10] : Số
giáo sư, giảng viên cơ hửu của
trường Cao Đẳng
Công Chánh tính đến
năm 1975 là 44 người .
Theo tài liệu [8,12] : Tính đến năm 1975, trường Cao Đẳng Công Chánh đă đào tạo được
2000 chuyên (1902-1975) .
Sau ngày mất nước 30/4/1975, Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức bị ngụy quyền cộng sản giải tán.
Theo tài
liệu [9] : Sau khi di tản
sang Hoa Kỳ, những
kỹ sư đă tốt nghiệp từ Trường
Kỹ Thuật Phú Thọ, v́ từng được
trường đào tạo để trở thành chuyên viên Công Chánh (?) theo chương tŕnh Hoa Kỳ tại Việt Nam, được
chính phủ Hoa Kỳ cho thi
lại để lấy bằng hành nghề mà không cần
phải học lại. V́ vậy,
hầu hết các nghề xây dựng hay điện lực th́ kỹ
sư Việt Nam được
làm việc lại tại Hoa Kỳ rất nhiều.
Tài
liệu
tham khảo :
1.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn
bằng tốt nghiệp ở miền
Nam trước 1975.
2.
https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/ Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật
Phú Thọ của Sài G̣n
xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net .
3.
https://online.anyflip.com/mhnd/gzeh/mobile/ Kỷ
Yếu Trường Cao Đẳng Công
Chánh -Kỷ Niệm 100 Năm
Thành Lập 1902 -2002.
4.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Trường Cao Đẳng
Công Chính.
5.
Trần
Sĩ Huân-Bóng Ngày Qua-Mơ Làng-1992.
6.
Trường
Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc
Hương – Cựu Hoa tiêu
sông Saigon - Ngày
06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September
26, 2017.
7.
https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ
năm 1940 đến
năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu
sông Sàig̣n - March, 2006
- Posted on September
28, 2017 by dongsongcu.
8.
GS.
Huỳnh Công Ân – Các trường
Đại Học ở miền
Nam trước 1975 (Phần
1).
9.
https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ai-huu-cong-chanh-mung-tan-nien-tai-little-saigon/ Ái Hữu Công
Chánh mừng Tân Niên tại Little Saigon - Lâm Hoài Thạch/Người Việt March 20, 2022.
10. file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/kyyeu%20Cong%20Ch%C3%A1nh%20Phan2.pdf Kỷ
Yếu Công Chánh - Phần
Hai – Danh sách Giám Đốc
Trường , Giáo sư và Sinh Viên .
11. http://ltahcc.com/lt74/lt74a_30.pdf Tin thêm về việc soạn thảo Kỷ Yếu Trường
Cao Đẳng Công Chánh-Lá thư
74- Tháng 9 - 99.
12. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm
Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ .
04- Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n – Đại Lộ Chi
Lăng ̣và Nguyễn Văn Học -Gia Định
Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n là hậu thân của Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.
Theo tài liệu [1] : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương được thành lập tại Hà Nội
bởi Nghị định do Toàn quyền Đông
Dương Merlin phê chuẩn ngày 27 tháng 10 năm 1924. Tuy
nhiên v́ một số lư do, năm khai giảng khóa học
đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương, là năm 1925, đă được
lấy làm năm thành lập trường.
Theo tài liệu [2] : Trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương đă phải đóng cửa
vào năm 1945 v́ t́nh h́nh đặc biệt của đất
nước. Tuy nhiên,chỉ qua 20 năm hoạt động,
trường này đă đặt được nền tảng
vững chắc cho sự phát triển một nền nghệ
thuật mới.
(Xem
thêm Sơ lược thành lập trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương trong Phụ
đề 1).
Tháng
2 năm 1954, toàn thể hội viên Hội Đồng
Tối Cao Giáo Dục tại Hà Nội đă thỉnh
cầu chính phủ Quốc Gia tái thiết lập
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội
(Đông Dương ?) ; Kiến nghị vừa được chấp
thuận th́ đất nước bị chia đôi theo hiệp định
Genève.
Tháng
10 năm 1954, hội nghị Giáo Khoa Mỹ Thuật và
Mỹ Nghệ họp tại Gia Định tán thành
kiến nghị của Hội Đồng Tối Cao Giáo
Dục tại Hà Nội trước đây, đề
nghị thiết lập trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật tại Miền Nam tự do.
Và
do vậy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm đă kư nghị định số 1192
GD/NĐ về việc thành lập trường Quốc Gia
Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định .Trường
này tiếp tục chức năng và vai tṛ của
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương.
Mặt
khác,theo tài liệu [3] : Năm 1954, Hiệp định
Genève chia đôi đất nước; Do đó một
số giáo sư và sinh viên di cư vào Nam đă tổ
chức một Hội Nghị Tối Cao Toàn Quốc
họp tại Gia Định, thỉnh nguyện lên chính
phủ thành lập một trường Quốc Gia Cao
Đẳng Mỹ Thuật. Do theo bản thỉnh
nguyện ấy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ
Tướng Chính Phủ đă kư nghị cho phép thiết
lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ
Thuật Gia Định và bắt đầu hoạt
động.
Hơn
nửa, theo tài liệu [4] : Tháng 10 năm
1954 một số họa sĩ yêu nghề đă
tổ chức hội nghị giáo khoa Mỹ Thuật và
Mỹ Nghệ tại Gia Định quyết định
đề nghị thành lập một trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật có cơ sở bên cạnh
Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định.
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật
Sài g̣n được thành lập
theo Nghị Định số 1192- GD ngày 31-12-1954. Trường nằm cạnh cơ
sở trường Trang Trí Mỹ Thuật
Gia Định.
Theo tài liệu [5] : Sau năm 1954 ,
trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Hà Nội di cư vào Nam đổi tên thành trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đă chọn
định cư trong khuôn viên của trường Mỹ
Nghệ Thực Hành Gia Định tọa lạc tại
ngả ba Đại Lộ Chi
Lăng ̣và Nguyễn Văn Học , tỉnh Gia
Định. (Xem thêm chi tiết về trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia
Định trong bài Trường
trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định
trước năm 1975 - Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ
Thuật Gia Định của cùng tác
giả ).
Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định năm 1920-1929 -
H́nh trích từ tài liệu
[6]
Mặt tiền
trường trung học Trang Trí Mỹ
Thuật Gia Định (trước
đó tên là Trường
Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định) chụp năm 1960.- H́nh trích từ tài liệu [4] - Sau 1975, sau
nhiều lần thay da đổi áo, trường xưa không còn nữa.
Tài liệu [7] cũng viết tương tự
như trên : Bên cạnh
Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định,
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n được thiết lập
ngày 30 tháng 12 năm 1954 (31-12-1954 như đă ghi trong
tài liệu [8] ) , với 2
ban đào tạo chính là Hội Họa và Điêu Khắc.
Theo tài liệu
[9] : Năm 1954, chính
phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho thành lập trường
Quốc Gia Cao Đẳng
Mỹ Thuật Sàig̣n , chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo h́nh
với chương tŕnh học 3 năm, qua các chuyên khoa:
Sơn Dầu, Sơn Mài, Lụa, Điêu Khắc.
(Phụ chú : Tên Trường
Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật trong những
đoạn văn ghi ở trên không đồng nhất :
lúc th́ Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật
Gia Định , lúc khác là Trường Quốc
Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài g̣n. Theo thiển ư
của TM tên Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ
Thuật Gia Định có thể
là đúng hơn bởi v́ trường tọa lạc hoàn
toàn trong tỉnh Gia Định ).
Và khởi điểm từ đó rồi kéo dài cho măi
đến hai mươi năm sau, trường Quốc
Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đă
đóng giữ một vai tṛ rất quan trọng trong việc
rèn luyện nhiều thế hệ nghệ sĩ của
đất nước, để tài bồi, bảo vệ
và phát huy một nền nghệ thuật quốc gia
tươi đẹp.
Ông
Lê Văn Đệ, một họa sĩ với tài năng
đặc biệt, trước đây đă đạt
được nhiều thành công danh vọng trong
nước cũng như ở nước ngoài,
đặc biệt là những công tŕnh mỹ thuật
của ông tại Vatican khoảng 1936-1937, đă
được chính phủ đề cử làm giám đốc,
với trách nhiệm nghiên cứu để xây dựng
một chương tŕnh đào tạo nghệ sĩ
với tiêu chuẩn cao nhất mà các trường Mỹ
Thuật Quốc Gia lớn trên thế giới vẫn
thường theo đuổi. (Xem thêm Sơ lược
tiểu sử Họa sĩ Lê
Văn Đệ trong Phụ đề 2 )
Ông
Lê Văn Đệ cùng với những người bạn
khác đă vạch ra chương tŕnh tổ chức và
theo đường
hướng dưới đây: Trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội cũ, Trường
Quốc Gia Cao Đẳng Paris, Viện Mỹ Thuật Roma
và Viện Đại Học Mỹ Thuật Tokyo.
Căn
bản chính của trường là bảo tồn dân
tộc tính và sắc thái mỹ thuật thuần túy
Việt Nam với mục tiêu phục hưng và phát
triển nền mỹ thuật cổ truyền
nước nhà trong mọi lănh vực. Ngoài ra, trường
cũng phải luôn luôn thích ứng với hoàn cảnh và phù
hợp với dân trí để tiến kịp sự phát
triển mỹ thuật chung của quốc tế.
Căn bản tổ chức chương tŕnh giáo khoa
của trường được hướng theo ba khía
cạnh sau đây: Mỹ Thuật Thuần Túy ,Mỹ
Thuật Phổ Thông và Mỹ
Thuật Công Nghệ.
Với phương lược đă vạch ở trên,
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định
đă phát triển rất tốt, và đến năm 1960
th́ đă trở thành trung tâm Mỹ Thuật Quốc Gia
thực sự, với :
Xưởng
hoàn bị mỹ thuật thuần
túy ;
Xưởng
thí nghiệm đồ gốm mỹ thuật ;
Xưởng
thí nghiệm sơn mài áp dụng ;
Xưởng
sáng chế các sản phẩm trang trí nội ốc và
kiển mẫu bàn ghế theo thời trang .
Buổi học h́nh họa tại lớp dự bị
của trường Quốc Gia Mỹ Thuật Sàig̣n
đầu thập niên 60
Theo tài liệu [4] : Năm 1971
, theo Nghị
Định số 273-QVK/ VHNĐ ngày 03-08-1971 của chính phủ
Việt Nam Cộng Ḥa ,trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n đổi tên thành trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n.Trong năm này, trường
Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n nâng thêm một cấp học
tăng số năm học từ 3 năm lên thành 7 năm.
TM đă
t́m kiếm trên mạng những điều kiện để
vào học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật
Sài G̣n, nhưng không có kết quả . Xin các bực thức
giả bổ túc cho. Xin đa tạ .
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n
trước năm
1975
Theo tài liệu [8] :
Bảy (7) họa sĩ tên tuổi, xuất thân từ
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương, gồm các ông Lê Văn Đệ, Nguyễn
Văn Long, Lưu Đ́nh Khải, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn
Văn Quế, Lê Yên và Bùi Văn Kinh đă lần lượt
đảm đương trọng trách giám đốc của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n .
Sau
đây là niên biểu qua thời các
giám đốc của
trường :
Từ
1954 đến 1966 : Ông Lê Văn Đệ (tài liệu
[10] ) ;
Từ
1966 đến 1967 : Ông Nguyễn Văn Long (tài liệu [11] ) ;
Từ năm 1967 đến 1968 : Ông
Nguyễn Văn Anh (Họa sĩ Nguyễn Anh) (tài liệu [12] ,
[13] và [14] );
Từ
1968 đến 1970 : Ông Lưu Đ́nh Khải (tài liệu
[15] và [16] ) ;
Sáu (6)
tháng đầu 1971 : Ông Nguyễn Văn Quế (tài liệu
[17] ) ;
Từ
1971 đến 1973 : Ông Lê Yên (tài liệu [18] ) ;
Từ 1973 đến 1975 : Ông Bùi Văn Kỉnh (tài liệu
[19] : c̣n được biết đến với tên
Bùi Kỉnh , ông mất năm 1996 và hiện nay c̣n rất hiếm
tác phẩm của ông được lưu truyền cho hậu
thế ) .
(Phụ chú : Năm 1971, ông Bùi Văn Kỉnh là Trưởng Tiểu Ban và các
ông Lưu Đ́nh Khải, Lê Yên cùng ông Phạm Tất Đạt
là Hội viên của Ban Chuyên
Môn Mỹ Thuật của Uỷ Ban Quốc Gia Danh Từ Soạn
Thảo Chuyên Môn theo tài liệu [20] ) .
Giám đốc Lê Văn Đệ
(đứng giữa) trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Sàig̣n. Ảnh: Manhhaiflicks
Với chương
tŕnh huấn luyện, đào tạo theo qui củ ngày càng
vững chắc, cho đến năm 1975, Trường Cao
Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n và sau đó Trường Quốc Gia Cao
Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n đă thực sự
đóng giữ vai tṛ vẻ vang của nó, tiếp tục
đảm nhận công tác chuyên môn của Trường
Mỹ Thuật Đông Dương để lại dở
dang trước đây, rồi trên cơ sở đó đă
cung cấp được rất nhiều nghệ sĩ
tài ba cho đất nước.
Trường Quốc Gia Cao
Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n và trường Trang Trí Mỹ
Thuật Gia Định tuy riêng rẻ nhưng hoạt
động song song theo cấp đào tạo, có mối quan
hệ mật thiết với nhau v́ nằm kế bên nhau và
đa số sinh viên Trường Quốc Gia Cao Đẳng
Mỹ Thuật Sàig̣n được xuất thân từ
Trường Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định.(Xem thêm
chi tiết về Trường
Trang Trí Mỹ Thuật Gia
Định trong bài Trường trung học ở Sàig̣n,
Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 -
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định của cùng tác giả) .
Sau
ngày Sài g̣n thất thủ,
30-04-1975, cả hai Trường
này bị ngụy quyền cộng sản tịch thu
và và sát nhập chung lại làm một.
Phụ đề
1 : Sơ lược về Trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật Đông Dương
Theo tài liệu [21] và
[22] :
Vào ngày 27 tháng 10 năm 1924,
Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin kư ban hành Nghị
định thành lập trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương (École Supérieure des Beaux-Arts de
l’Indochine ).
Trang b́a Bản Nghị định cho phép thành lập
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương tại Hà
Nội, do Toàn quyền Đông Dương Merlin phê chuẩn ngày 27 tháng 10 năm 1924
Tuy nhiên, trường chưa thể mở cửa trước tháng 11 năm 1925, v́ một số
lư do:
– Cần thời gian cho việc quy hoạch và xây dựng
dăy phụ cận, như ṭa nhà Giải
thưởng Đông Dương và tư thất
của hiệu trưởng nhà trường.
– Cần thời gian để tập hợp và tổ
chức hệ thống giảng viên cũng như để chuẩn bị các phương tiện vật chất khác cho hoạt động của nhà trường. Cũng trong thời gian này, họa sĩ Nguyễn Nam Sơn đă
được cử
sang học tập tại Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Quốc
gia và Trường
Cao đẳng Nghệ thuật
Trang trí Quốc gia ở
Paris, nhằm đảm
nhiệm một chân phụ tá (moniteur) cho ban giám hiệu.
– Cần thời gian thông báo và
chuẩn bị cho kỳ thi
tuyển đầu tiên (mà trên
thực tế đă diễn ra vào ngày 5 tháng
10 năm 1925).
Như vậy,
năm khai giảng khóa học đầu tiên của Trường
Cao đẳng Mỹ
thuật Đông Dương, tức năm 1925, đă được lấy làm năm
thành lập trường.
Bản
vẽ mặt trước và mặt bên khu
nhà ở và xưởng vẽ của giáo sư Trường Mỹ
Thuật do kiến trúc sư Charles Lacollonge lập năm 1925 – H́nh trích từ
tài liệu [22]
Theo tài liệu [21] : Trường Mỹ Thuật, năm đầu tiên sáng lập ở
khu vườn Dufeur. Đó là một xưởng lớn, lợp
kẽm trước kia chứa cuốc xẻng của Sở
Lục Lộ, năm 1925, vừa là tư thất của
ông Đốc Tardieu, vừa là chỗ họp của những
người mới được tuyển . Cổng
trước của Trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông Dương ở số
102 phố Reinach, cổng sau ở số 42 phố phố Bovet sau là phố Yết
Kiêu .
Ṭa
nhà mới của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương tại 102 phố
Reinach, Hà Nội. Ảnh chụp năm 1929 – H́nh trích từ tài liệu [21]
Về
tên trường (theo tài liệu [21]) : :
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương (l’École supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine) tên chính thức
là Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đại Học Đông Dương (l’École
supérieure des Beaux-Arts de l’Université indochinoise). C̣n
gọi tắt là Trường Mỹ thuật Đông Dương (l’École des
Beaux-Arts de l’Indochine) hoặc Trường
Mỹ Thuật Hà Nội (l’École des
Beaux-Arts de Hanoi).
Trường nằm
trong hệ thống “Đại học đường”
(Grandes Écoles) thuộc ngành
giáo dục đại học Pháp. Chữ “cao đẳng” (supérieur) nhằm
chỉ bậc học (đại học) và ngạch
học (chính qui, công lập). Việc thành lập một trường như vậy buộc phải được quyết định bởi cấp bộ trưởng, mà v́ vậy
trường mới
được hưởng
ngân sách do nhà nước cấp.
Chương tŕnh đào tạo
(theo tài liệu
[22]) :
Trường Mỹ Thuật
Đông Dương thành lập tại Hà Nội để
giảng dạy các môn nghệ thuật và h́nh hoạ theo
chương tŕnh cao đẳng.
Trường nhận sinh viên
chính quy bản xứ thông qua thi tuyển và sinh viên tự do
người Âu và người nước ngoài. Kỳ thi tuyển
sinh diễn ra vào tuần đầu tiên của tháng 9 hàng
năm, gồm các môn : Vẽ mặt mộc , bài thi trang trí
và bản vẽ phong cảnh.
Thời gian học kéo dài 3
năm, với các môn học như: Hội hoạ và
Điêu khắc, Trang trí, Mỹ
học và Lịch sử nghệ thuật, Khảo cổ,
Nghệ thuật kiến trúc Viễn Đông…
Trong 3 năm học, trường
không tổ chức kỳ thi lên lớp hay tốt nghiệp
nào để xác nhận kết quả học tập
cũng như xếp hạng sinh viên khi ra trường, mà
dựa vào điểm số đối với tác phẩm
của sinh viên và tổng điểm đạt được.
Sinh viên đạt điểm tối thiểu do Hội
đồng giáo sư quy định được cấp
bằng của Trường Mỹ Thuật Đông
Dương.
Mỗi năm một lần,
công tŕnh của sinh viên được đánh giá xuất sắc
sẽ được trưng bày công khai tại trụ sở
của trường trong 8 ngày.
Giám đốc và đội
ngũ giảng viên tài năng :
Giám đốc trường Mỹ thuật do
Toàn quyền chỉ định theo đề nghị của
Giám đốc Nha học chính và được lựa chọn
trong số những nghệ sĩ nổi tiếng, ưu
tiên những nghệ sĩ từng đạt Giải
thưởng Đông Dương. Người được
bổ nhiệm làm Giám đốc
phải kư hợp đồng làm việc tối đa
là 6 năm và có thể gia hạn.
Theo tải liệu [22] và [23] : Victor Tardieu trở thành vị Giám
đốc đầu tiên của trường Mỹ Thuật
Đông Dương theo Hợp đồng kư ngày 24/11/1924.
Trang đầu
và trang cuối bản Hợp đồng của Victor Tardieu kư ngày 24/11/1924
Theo tài liệu [22] : Ông
Victor Tardieu đă
dành nhiều tâm huyết, sức lực cho việc khai sinh ngôi
trường này.
Ông là người mở
đầu nền mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam
hiện đại . Ông
xây dựng một
chương tŕnh đào tạo để phát huy di sản
truyền thống kết hợp với hội họa
phương Tây, được khích lệ "chấn
hưng nghệ thuật An Nam".
Hơn
nửa theo tải liệu [24] : Ông xây dựng
một chương tŕnh đào tạo để phát huy di sản
truyền thống kết hợp với hội họa
phương Tây, được khích lệ "chấn
hưng nghệ thuật An Nam".
Theo tải liệu [22] : Năm 1925, ông Victor Tardieu đưa vào
chương tŕnh giảng dạy những khái luận
cơ bản về thư viện, bảo tàng cũng
như cơ sở vật chất để khởi động
ngôi trường. Ông đă tiến cử những người
có ảnh hưởng lớn đối với nền mỹ
thuật Đông Dương : Ông Joseph Inguimberty làm giảng
viên môn nghệ thuật trang trí, ông Sabatier làm giảng viên
trang trí nội thất, ông Ponchemin làm giảng viên phối cảnh
và ông Nam Sơn làm cố vấn.
Ban đầu, trường
chỉ có khoa Hội hoạ với thời gian học là 3
năm. Năm thứ nhất có 12 sinh viên. Năm 1926, thời
gian học được nâng lên thành 5 năm.
Đến năm 1927, trường
có thêm khoa Kiến trúc do ông Roger phụ trách.
Năm 1928, ông Joseph Inguimberty tiến hành các
cuộc nghiên cứu đầu tiên về sơn dầu và
nghệ thuật sơn mài.
Họa
sĩ Joseph Inguimberty (người
thứ hai từ trái sang) và sinh viên
Theo tài liệu [25] : Đỗ đầu khóa 3 năm 1927 trường Mỹ Thuật Đông Dương là bà
Lê Thị Lựu . Bà là một họa sĩ chuyên về
tranh lụa và tranh sơn dầu người Việt Nam. Bà
được xem là nữ họa sĩ đầu tiên của
nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, nằm
trong bộ tứ danh họa Việt tại Pháp : Phổ- Thứ-Lựu-Đàm .
Họa
sĩ Lê Thị Lựu đứng cạnh họa sĩ Nam Sơn và giám đốc trường Mỹ Thuật Đông Dương Victor Tardieu năm 1927 – H́nh trích từ tài liệu [25]
Năm 1930, ông Kruze được bổ nhiệm làm giảng
viên chính ngạch của khoa Kiến trúc. Tuy nhiên, khi đó
sinh viên khoa Kiến trúc vẫn chỉ mong muốn trở thành nhân viên
công chính.
Trên thực tế, thông qua
đội ngũ giảng viên và giám đốc, sinh viên
trường Mỹ Thuật Đông Dương đă bán
được một số bức tranh lụa,tuy nhiên vào
thời điểm đó, để kiếm sống bằng
nghề vẽ này là điều không dễ.
Năm 1932, trường Mỹ
thuật Đông Dương mở thêm khoa Điêu khắc
và giao cho ông Mercier phụ trách.
Ông Tardieu qua đời năm 1937, chấm dứt thời kỳ
sơ khai và đầy khó khăn của trường Mỹ
thuật. Các thế hệ học tṛ sẽ nhớ măi về
ông với một t́nh cảm đặc biệt và sự
trân trọng. Hàng năm, họ tập trung vào “ Ngày Tardieu”
để tưởng nhớ về người thầy
đáng kính này.
Ngày 25 tháng 4 năm 1938, Toàn
quyền Brévié kư ban hành nghị định tái tổ chức
trường Mỹ thuật Đông Dương, theo đó,
trường chính thức trở thành trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật và Nghệ Thuật Ưng Dụng. Trường
này có các khoa : Gốm sứ,
Đồ gỗ, Điêu khắc chú trọng đào tạo
ngành thủ công mỹ nghệ .Về sau, trường c̣n mở
một số khoa khác như: Đồng, Thảm và Đồ
đan lát.
Hơn nửa,theo tài liệu [21] :
Năm 1938, Trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật Đông Dương đă được tổ
chức lại (theo nghị định kư ngày 24 tháng 5
năm 1938 của Toàn quyền Đông Dương) và lấy
tên là Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ
thuật Thực Hành Đông Dương (l’École supérieure des
Beaux-Arts et des Arts appliqués de l’Indochine).
Theo đó, nhà trường
có :
Hai (2) ban chính :
1.
Ban
hội họa, điêu khắc và sơn mài
(section de peinture, sculpture et laque);
2.
Ban
kiến trúc, thuộc ngành giáo dục đại học
(l’enseignement supérieur).
Ba (3) ban phụ
thuộc về nghệ thuật thực hành :
1.
Ban
trần triết (?)
(bậc 2) ;
2.
Ban
kim hoàn và chạm trổ
(bậc 1, nghề thủ công) ;
3.
Ban
gốm (bậc 1) và cuối cùng
là một lớp bổ túc (cours complémentaire) về
hội họa và nghệ thuật
trang trí.
Từ năm 1938, ông Évariste Jonchère được chỉ
định giữ chức giám đốc.
Theo tài liệu [21] : Viện lưu trữ quốc
gia Pháp, ngành hải ngoại (Archives nationales, Section Outre-Mer)
hiện vẫn c̣n lưu một bức thư của Bộ
trưởng Bộ Thuộc địa Marius Moutet gửi
Toàn quyền Đông Dương, ghi ngày 25 tháng 8 năm 1937,
đề cử nhà điêu khắc Évariste Jonchère làm giám
đốc Trường Cao Đẳng Mỹ thuật
Đông Dương ở Hà Nội.
Nhà
điêu khắc
Évariste Jonchère trong xưởng
điêu khắc của ông ở Hà Nội năm
1943 -H́nh trích từ tài liệu
[21]
Ông
Évariste Jonchère chủ trương tăng cường
giáo dục thủ công mỹ nghệ ,chú trọng tới
phát triển nghệ thuật sơn mài. Như vậy là
“sơn mài” từ chỗ là một môn học thử nghiệm,
sau khoảng 10 năm, đă trở thành một môn học
cơ bản tương đương với hội họa
và điêu khắc. Mặt khác, ông cho mở khoa Đồ gỗ
và khoa Gốm sứ. Ông
cũng là người đưa ra ư tưởng về việc
tổ chức một đơn vị hỗ trợ các cựu
sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương
trưng bày tác phẩm nghệ thuật của ḿnh.
Theo tài liệu [24] : Bản tin của
Đông Dương Kinh Tế Cục, 1933, trang 215 đă viết
về Triển lăm các nghệ sĩ Pháp, Grand Palais, Paris, từ
30-4 đến 30-6-1933: "Nam Sơn, Lê Phổ, Lê Văn
Đệ, ba họa sĩ đă làm rạng danh sự nghiệp
giáo dục của trường phái Hà Nội".
Thành công nối tiếp thành
công :
Cuộc triển lăm đầu
tiên do trường tổ chức diễn ra tại Sài G̣n
vào tháng 11 năm 1938, triển lăm tại San-Francisco năm
1939 và các cuộc triển lăm tiếp sau đó đă gặt
hái nhiều thành công vang dội, nhanh chóng khẳng định
uy tín và phẩm chất đào tạo của trường.
Ngày 09 tháng 02 năm 1939, Toàn
quyền Brévié ban hành nghị định chính thức công nhận
sự tồn tại của Hội Nghệ sĩ trường
Mỹ thuật.
Năm 1939,
trường mở thêm 2 xưởng mới và hoạt
động của trường ngày càng được mở
rộng.
Lớp
điêu khắc, khoảng 1940 - H́nh trích từ tài liệu [21]
Các cuộc triển lăm
năm 1939, 1940 và 1941 là minh chứng cho thấy sự tiến
bộ của Hội nghệ sĩ trường Mỹ thuật.
Mặc dù vậy qua biểu
đồ kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật, người
ta nhận thấy doanh thu đạt được tại
các năm không ổn định. Năm 1934, doanh thu mới
chỉ là 600 đồng bạc Đông Dương, năm
1935 là 687. Năm 1936 ghi nhận mức doanh thu thấp nhất
là 300 đồng bạc Đông Dương. Nhưng kể
từ năm 1937, con số này đă lên tới 1.600. Năm
1938 là 7.180, sau đó đến năm 1939 đánh dấu
bước nhảy vọt thần kỳ là 24.799 đồng
bạc; 25.422 đồng năm 1940; 27116 đồng năm
1941. Năm 1942 ghi nhận con số ấn tượng là
41.087 đồng bạc. Phải thừa nhận rằng
dưới sự kiểm soát của trường Mỹ
Thuật Đông Dương, Hội cựu sinh viên của
trường đă có một lượng lớn khách hàng tiềm
năng.
Cuộc triển lảm
trưng bày các tác phẩm tại viện Bảo tàng Maurice Long nhân dịp
Hội chợ Hà Nội năm 1941 là một thành công thực
sự đối với trường cũng như Hội
Nghệ sĩ Đông Dương.
Không ảnh Bảo tàng Maurice Long năm 1931
Được sự ủng
hộ của Đô đốc Jean Decoux, năm 1942, trường
xây dựng thêm một ḷ gốm nhằm giúp các nghệ nhân
làm quen với nghệ thuật nung gốm. Ngày 22 tháng 10
năm 1942, Toàn quyền Đông Dương kư ban hành nghị
định về việc tách trường Cao đẳng
Mỹ thuật gồm các khoa Hội hoạ-Sơn
mài-Điêu khắc và Kiến trúc ra khỏi trường Mỹ
Thuật Ứng Dụng.
Chỉ trong một thời
gian ngắn, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
đă có bước phát triển ngoạn mục. Điều
đáng nói là các tác phẩm nghệ thuật của sinh viên
tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
rất được ưa chuộng, thậm chí không
đủ đáp ứng nhu cầu của công chúng.
Các tác phẩm trưng bày trong Bảo tàng Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương (khoảng 1940 – 1945) - Ở chính giữa là hai tranh sơn
mài của Nguyễn
Gia Trí, Thiếu nữ
bên đầm sen và Bên hồ
Hoàn Kiếm, tranh dài khổ dọc
bên phải là tranh khắc
gỗ Hai cô Mường của Nguyễn
Văn Tỵ…- H́nh trích từ tài liệu [21]
Theo tài liệu [23] :
Sự ra đời của trường đánh dấu
một bước ngoặt quan trọng, lần đầu
tiên các kỹ thuật và quan niệm nghệ thuật
phương Tây được giới thiệu và giảng
dạy một cách có hệ thống tại Việt Nam, song
song với việc khuyến khích khai thác các giá trị nghệ
thuật truyền thống. Đây không chỉ là một
cơ sở đào tạo mà c̣n là cái nôi nuôi dưỡng những
tài năng kiệt xuất, những người sau này
đă định h́nh diện mạo cho nền mỹ thuật
hiện đại Việt Nam. Ngôi trường đă
đóng góp to lớn vào việc h́nh thành một thế hệ
nghệ sĩ Đông Dương với bản sắc
riêng, kết hợp hài ḥa giữa tinh hoa Đông và Tây.
Các giảng viên người
Pháp như Victor Tardieu và Joseph Inguimberty đă truyền đạt
kiến thức về bố cục, ánh sáng, màu sắc theo
học thuật phương Tây, đồng thời
cũng rất trân trọng và khuyến khích học tṛ t́m về
cội nguồn văn hóa dân tộc. Chính sự giao thoa này
đă tạo nên những tác phẩm độc đáo, mang
đậm dấu ấn của thế hệ vàng mỹ
thuật Việt Nam giai đoạn này.
Tầm quan trọng của
trường không chỉ dừng lại ở việc
đào tạo mà c̣n ở việc tạo ra một môi
trường sáng tạo, nơi các họa sĩ tài năng
có thể tự do khám phá và thể hiện bản thân.
Những cống hiến của
các họa sĩ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương đă tạo nên một giai đoạn
rực rỡ trong lịch sử mỹ thuật Việt
Nam. Tên tuổi và tác phẩm của họ măi là niềm tự
hào, là di sản quư báu cần được ǵn giữ,
nghiên cứu và phát huy, tiếp tục truyền cảm hứng
cho những người yêu nghệ thuật hôm nay và mai sau.
Sau đây là vài hàng về Họa sĩ Victor Tardieu trích từ
tài liệu [21] :
Victor Tardieu trong
xưởng họa của ông ở Bắc Kỳ (khoảng 1922
-1923) - H́nh trích từ tài liệu
[21]
Victor Tardieu - Bức tranh trang trí
Giảng đường
lớn Khoa Y học,
Đại học
Đông Dương- Ảnh chụp năm 1930 - H́nh
trích từ tài liệu [21]
Lâu nay người ta vẫn
thường đồng nhất ông Victor Tardieu ,người
sáng lập và là giám đốc trưởng đầu tiên
của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương với “những
người Pháp sống ở thuộc địa”. Sự
thật, ông Victor Tardieu đến
Việt Nam với tư cách của một người
đến để hợp tác. Bản thân ông Victor Tardieu
cũng không hề có quan hệ họ hàng ǵ với ông André
Tardieu, một chính khách hàng đầu của nước
Pháp thời đó. Bởi vậy, về mặt quyền lực,
ông Victor Tardieu cũng không hề
có bất cứ một sự hậu thuẫn nào đến
từ chính quốc Pháp. Trải qua nhiều phen Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương phải
đối mặt với nguy cơ bị đóng cửa,
người đứng ra bảo vệ mạnh mẽ nhất
cho sự tồn tại của nhà trường lại
chính là một người Việt Nam: ông Nghị trưởng
Phạm Huy Lục.
Trên tạp chí Indochine (số
171, ngày 9 tháng 12 năm 1943), về Victor Tardieu, học giả
Claude Mahoudot viết: “…1924, năm thành lập Trường
Mỹ Thuật Hà Nội, vậy đúng là một năm
quan trọng. Các họa sĩ An Nam không mắc sai lầm.
V́ vậy họ đă tôn kính hồi nhớ lại người
sáng lập nhà trường là ông Victor Tardieu.
Chúng tôi không được biết
người giám đốc đầu tiên này. Xem ảnh mà
chúng tôi có, th́ ông to lớn, cầm gậy trong tay, đi giày
có ghệt, mặc áo gi-lê có mang dây đồng hồ, tóc chải
cẩn thận, trắng hoàn toàn. Đôi mắt tinh nhanh sau
một cặp kính của ông chủ ngân hàng Mỹ, thực
là chân dung của một con người làm chủ tịch
hội đồng quản trị, và thực tế, ông là
một nhà quản trị giỏi.
Ông cũng c̣n là một
người thúc đẩy tốt, nếu ta nh́n vào những
triển lăm mà ông tổ chức từ khi trường ra
đời và những hoạt động của trường.
Ông lại c̣n một đức tính hiếm hoi nữa: ông
biết tập họp những người xung quanh. Nếu
bản thân ông là một họa sĩ b́nh thường,
như ta có thể thấy qua bức vẽ của ông tại
Trường Đại học Hà Nội, th́ ở trong nghề,
ông hiểu được những nhu cầu của nghề.
Biết rằng trường của ông có một cuộc sống
mỏng manh, ông không bị hù dọa mà cũng không nản
ḷng trước những lời chỉ trích mà thường
mọi việc hay gặp phải khi khởi đầu.”
Hà
Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1930. Giám đốc Victor Tardieu cùng các sinh
viên khóa đầu tiên trong một bữa tiệc thân mật.
Dăy
bên phải, từ phía trước
xuống: Georges Khánh, Victor Tardieu, Nguyễn
Phan Chánh.
Dăy
bên trái, từ phía trước
xuống: Lê
Văn Đệ, Mai Trung Thứ,
Lê Phổ, Công Văn
Trung (ảnh của
Hương Kư Photo)
Ở một
góc độ khác, trong bản
thảo tập hồi kư viết
tay của họa sĩ Trần Quang Trân, về t́nh cảm của ông Victor Tardieu đối với những người học tṛ của
ông, có một
đoạn rất cảm động: “… Từ ông giám
đốc, các giáo sư, học
tṛ, rất thân mật với nhau. Mỗi năm, nhân dịp ngày nghỉ nào đó, họp
mặt đầy đủ để ăn tiệc. Pḥng vẽ dọn quang, kê lại ghế
ngồi, rồi thửa tiệc ở nhà Splendide Đông Hưng
Viên hay Nhật Tân. Tha hồ
say. Tôi c̣n nhớ năm
ăn ở nhà anh Trần Phềnh, năm th́ ăn ở gác Hưng Nghiệp Hội Xă 87 Henri d’Orléan (phố Phùng Hưng), năm th́ ăn
ở Nhật Tân lâu. Học tṛ rủ nhau
chủ nhật đi vẽ, vào Hà Đông, thuê thuyền đi trên sông
Nhuệ, ăn xôi, bánh ḿ,
uống rượu và ăn đồ
hộp, là thường.
Tôi c̣n nhớ
một hôm chủ nhật cũng đi thuyền trên sông Nhuệ, đến địa phận làng Khúc Thủy th́ chị Cả
Quang gọi lên bờ, vào nhà
nghe hát cô đầu, và khi về thuyền c̣n tiễn hai chai xâm-banh, do đào Chu Thị
Năm xách ra cho. Chơi th́ chơi thả
cửa mà làm cũng thấy
mê mải, v́ vẽ bao giờ cũng có hứng.
Vẽ
sinh hứng thật. Đă đi vẽ th́ đường khó đến đâu cũng vượt, mưa hay nắng bất chấp, cốt lấy cái cảnh cho đẹp, ánh sáng cho
vừa ư là được. Từ ông giám đốc
đến học sinh đều liều lĩnh như thế hết.”
Sinh viên
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương và sinh viên của một số trường đại học, cao đẳng khác đang trên đường đưa
ông Victor Tardieu từ
Nhà thương Saint-Paul về
nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội
Victor Tardieu mất
tại Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 1937. Các học tṛ của
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương khi ấy đă
để tang và đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng như một người cha của họ. Năm 1948, di hài ông đă được
chuyển về Pháp,
tại một ngôi làng nhỏ
ở Fontainebleau.
Victor Tardieu sinh
ngày 30 tháng 4 năm 1870 ở Lyon. Năm
1902, ông cưới
Caroline Luigini, một nghệ
sĩ chơi đàn harpe. Người
con độc nhất
của hai người, Jean Tardieu, đă
từng đi nghĩa vụ quân sự ở Đông
Dương, sau trở
thành một nhà thơ nổi
tiếng bậc nhất của nước Pháp.
Lễ
khánh thành tượng bán thân Victor Tardieu do Georges Khánh thực
hiện tại khuôn viên trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương ngày 25-5-1938 - H́nh trích từ
tài liệu [24]
(Phụ chú : Georges
Khánh là học tṛ của Victor Tardieu, khóa đầu tiên trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương) .
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương hoạt động cho đến
năm 1945 th́ đóng cửa vĩnh viễn.
Phụ
đề 2 : Sơ lược tiểu sử Họa
sĩ Lê Văn Đệ
Hoạ
sĩ Lê Văn Đệ - H́nh trích từ tài liệu [24]
Ông
Lê Văn Đệ -
H́nh trích từ tài liệu
[26]
Theo tài liệu
[3] : Ông
Lê Văn Đệ sinh ngày 24 tháng
8 năm 1906 tại Mỏ Cày, Bến
Tre, trong một gia đ́nh phú
hào. Thân sinh là cụ Hàm Tri Huyện Lê Quang Ḥe, nguyên
cai tổng Minh Đạt
(Bến Tre). Thân sinh ông vốn là
cựu học và là một
nhà đông y có tiếng. Gia đ́nh có mười
ba người con. Lê văn Đệ
thứ mười, nên ở nhà có tên là Dix (Mười).
Ônh
học trung học tại trường Taberd, Sàig̣n và đậu
bằng Cao Đẳng Sơ
Học (Brevet Élementaire) . Gia đ́nh khuyến khích ra Hà Nội
học trường
Luật hoặc trường Thuốc, ông đều không thích ,chỉ thích
thi vào Mỹ
Thuật. Ông có năng khiếu
hội họa từ nhỏ. Sau khi rời trường Taberd, mỗi ngày ông đến
học vẽ với họa sĩ Huỳnh Đ́nh Tựu.
Theo tài
liệu [27] : Ông thi
vào trường Cao Đẳng Mỹ
thuật Đông Dương Hà Nội, năm
1925. Ông học với giáo sư họa sĩ người Pháp
Victor Tardieu và Joseph Inguivaberty.
Theo tài
liệu [10] : Trong những năm theo học ở trường Cao Đẳng Mỹ
thuật Đông Dương, ông luôn được
xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường.
Sau 5 năm theo học, ông đậu thủ khoa năm 1930, khóa 1 Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương vào năm
1930. Sở trường
của ông là tranh lụa,
tanh sơn dầu và bích
họa với khuynh hướng tân cổ điển.
Khóa
1 này gồm tám (8) sinh viên
trong số bốn trăm thí sinh của
các xứ Đông
Dương thuộc Pháp (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Cao Miên
) : Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, George
Khánh, Lê Phổ, Mai
Trung Thứ, Công Văn Trung, Nguyễn
Tường Tam và Lê
Ang Phạm. Sau đó, chỉ
có sáu (6) người theo đuổi đến cùng, c̣n Nguyễn Tường
Tam (nhà văn Nhất Linh) và Lê Ang Phạm th́ bỏ dở không theo học
hết khoá.
Ông
được học
bổng du học Pháp của
hội SAMPIC (Société d’Améloration
Morale, Intellectuelle et Physique des Indegènes de
Cochinchine: Hội Đức Dục, Trí Dục và Thể Dục
của người bản xứ Nam Kỳ), ông tiếp tục theo học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Pháp (École
Nationale Supérieure des Beaux Arts).
Đáng
lẽ ông phải vào học lại từ lớp Dự Bị, nhưng nhờ có thư giới
thiệu của
Victor Tardieu và một
số tranh của ông đem
theo từ Việt
Nam qua nên được
nhận vào học vào năm
thứ nhất ngay. Lại thêm được giáo sư Viện Sĩ Jeans Pierre Laurens (Membre de l’Institut) nhận dạy riêng ở xưởng vẽ về tranh sơn dầu. Nên buổi sáng học ở trường;
buổi chiều về lại làm việc ở xưởng vẽ của họa sĩ J.P. Laurens. Ông tiến bộ quá nhanh, nhiều
tranh giá trị ra đời lúc này. Gởi
tranh dự thi nhiều nơi, được rất nhiều giải thưởng. Lần tiếng tăm vang dội
nhiều nhất là đoạt giải nh́ cuộc triển lăm lớn do Hội Nghệ Sĩ Quốc
Gia Pháp tổ chức
tại Paris, ngày 1 tháng 5 năm 1932. Ông đă gởi
dự ba (3) bức: “Mụ Thày Bói”, “Bến
Ga Monparnasse” và “Người Đàn Bà Cài Đầu”.
Tài liệu
[10] cũng
viết tương tự như trên : Trong thời
gian học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông
đă gây được sự chú ư trong giới nghệ thuật.
Năm 1933, ông đoạt được giải nh́ cho hội
họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức
với 3 tác phẩm Bà thầy bói, Trên sân ga
Montparnasse, Thiếu nữ điểm trang. Tranh ông
được chọn triển lăm tại pḥng số 1, một
gian pḥng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ
5.000 họa sĩ các nước.
Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy
giờ đă đề cập đến tác phẩm của
ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển
lăm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa
Pháp đă chọn mua ngay một bức tranh "Trong gia
đ́nh" của ông để treo ở Bào Tàng Mỹ
Thuaat65 Luxembourg. Theo Đông Dương Tuần báo, vào
năm 1934 , có hơn 40 tờ báo Pháp đề cập đến
tác phẩm của ông. Ông được Bộ Văn hóa
Pháp chọn mua bức tranh Trong Gia Đ́nh, và được
treo trang trọng ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.
Tranh của ông không nhiều,
số lớn nằm trong các sưu tập ở Pháp, ở
Ư. Một số chân dung vẽ rất tinh tế (các nhà phê
b́nh thuờng ví nét vẽ chân dung của Lê Văn Đệ
với Foujita; nhưng Lê Văn Đệ c̣n giữ
được nét Á Đông hơn). Các nhân vật trong ṭa
thánh Vatican như “Chân Dung Đức Giáo Hoàng Pie XI”, “Chân Dung
Đức Hồng Y Verdier”,… một số chân dung các thiếu
nữ người Ư, Pháp như “Mỹ Nhân Ở Capri” và
“Chân Dung Tự Họa”. Một số tranh nghiêng về
đề tài tôn giáo như: “Thánh Mẫu Nhân Từ”, “Thánh Mẫu
Kiểu Á Đông”, “Thánh Mẫu Madeleine” là những bức
tiêu biểu.
Rất nhiều báo chí trong
lúc bấy giờ viết bài khen ngợi ông hết ḷng. Bức
“Bến Ga Montparnasse” được in vào sách và ông
được nhận vào Hội Nghệ Sĩ Quốc Gia
Pháp.
Là nguời Á Đông đầu
tiên vào hội cũng nhờ tài năng và tiếng tăm lừng
lẫy đó, người họa sĩ trẻ Việt Nam,
lúc ấy hai mươi lăm (25) tuổi, được
một học bổng qua La Mă (Ư)
và Hy Lạp khảo sát và nghiên cứu.
Năm 1936, Tổ chức Báo
chí Công giáo bảo trợ tại Rôma mở cuộc triển
lăm tranh, tượng, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi
tiếng của 30 quốc gia trên thế giới: tác phẩm
của ông đoạt giải nhất.
Theo tài liệu [10] : Sau đó ,ông được
Ṭa Thánh La Mă (Vatican) bổ làm họa
sĩ cho Ṭa Thánh và được mời phụ trách một
nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ,
chạm trổ, trang hoàng trong điện
Vatican. Công tŕnh do ông chỉ đạo
thực hiện đă được báo chí Ư, Pháp, và nhiều nước trên thế giới
đánh giá
cao về phẩm chất (qualité) tuy số lượng không nhiều.
Ông được ban thưởng Giáo Hoàng Bội
Tinh, đây là một vinh dự cho dân tộc Việt
Nam. Đa số các tác phẩm của ông nằm
trong các sưu tập ở bảo tàng Pháp, Ư, và một số
tranh chân dung các chức sắc trong ṭa Thánh Vatican như: chân
dung Đức Giáo Hoàng PIO XI, chân dung Đức Hồng Y
Verdier, chân dung các thiếu nữ Ư, Pháp và một số tranh
tôn giáo: Đức Mẹ Từ
Bi, Thánh Madeleine dưới chân Thập Giá (bức này
được Viện bảo tàng Mỹ thuật giáo
sĩ thừa sai Vatican mua), Mẹ và Con (Viện bảo tàng
Mỹ thuật Aix Lachapelle đặt mua)
Tác giả tài liệu [3] đă trích sau đây một đọan
trong chương “Vào Vatican” trong quyển “Một Nhà Họa
Sĩ Ta: Lê Văn Đệ” do Nguyễn văn Hanh viết
và xuất bản tại Sài g̣n năm 1939, cũng để
đọc lại lối hành văn lúc ấy:
“ Năm 1936, Lê Văn Đệ
được vào đền Vatican xếp đặt các
gian pḥng Đông Pháp và luôn cả Á Châu. Từ Tiểu Á Châu,
Thiên Trước, Mă Lai, Xiêm La, Nam Dương quần đảo,
Trung Hoa, Nhật Bản đến Úc Châu trong cuộc Đấu
Xảo báo chí toàn cầu sẽ mở ra năm ấy.
Lê Văn Đệ chỉ
huy kiến trúc, điêu khắc, trang sức, hội họa,
gia cụ. Dưới quyền họa sĩ da vàng có một
(1) nhà kiến trúc, một (1) nhà điêu khắc, ba (3) họa
sĩ, một (1) kỹ sư, năm (5) tay trang sức và
hai mươi (20) phu; cả thảy là người mũi
cao da trắng !
… Cuộc Đấu Xảo
này có trên ba mươi (30) nước dự. Sau ban trị
sự định mỗi xứ gửi tài tử ḿnh đến.
Pháp sai qua nhà kiến trúc đại danh Hilt, có phần
thưởng thành Rome, và nhà đại họa sĩ Bouleau.
Lê Văn Đệ được
lănh công việc trong ṭa Thánh, c̣n nhiều tài tử rành nghề
lại không có, thật đáng phục tài. Xưa nay các tài tử
có phần thưởng thành Rome chỉ mong ước
được ṭa Thánh mướn mà thôi. Biết bao nhiêu
người không được đắc vọng ! Nay một
họa sĩ ta vào được th́ biết Lê Văn Đệ
có tài quán chúng dường nào! Thầy của Lê Văn Đệ,
ông Victor Tardieu, chưa được Vatican giao việc lần
nào ! Dầu vậy, lúc hay tin học tṛ ḿnh làm công việc
trong Vatican cũng như Raphael, Micheal Angelo, chắc ông
cũng tự đắc lắm !
Làm trong Vatican bốn (4) tháng
trường, từ chín giờ mai đến mười
hai giờ khuya, chỉ xả hơi ba giờ để
ăn uống.
Khi làm xong, phần việc Lê
Văn Đệ đẹp nhứt. Đáng để ư hết
là bức tranh “Thánh Nữ Bồng Thánh Trẻ Hài Nhi”… Đức
Giáo Ḥang bằng ḷng đến đỗi Ngài cho vào yết
kiến và cho hôn nhẫn. Được vào bệ kiến
Đức Phalpha không phải dễ. Lại hôn nhẫn,
trong đạo, cũng là một danh dự tối trọng…”
(Sách đă dẫn, trang 53) .
Theo tài liệu [ 3] : Năm 1936, là một
người công giáo thuần thành , ông Lê Văn Đệ
được Đức Cha Celso
Costantins, Thư kư Bộ Truyền giáo Vatican rửa tội
với tên thánh Celso Léon Lê Văn Đệ. Với bản
chất là người dân Nam Phần, mộc mạc, b́nh dị,
thích cái đẹp thôn dă của quê hương, nên vào
năm 1939, từ Paris ,ông quyết định trở về
nước thăm gia đ́nh sau gần 10 năm học tập,
nghiên cứu, sáng tác và nổi danh ở Châu Âu. Ông ở lại
luôn v́ muốn đóng góp sức ḿnh cho nghệ thuật
đất nước. Cùng trong năm trở về này (1939)
ông đứng ra thành lập hội Hội F.A.R.T.A (Foyer de
l’Art Annamites: Nhóm Nghệ Thuật Annam) quy tụ các họa
sĩ tài danh lúc bấy giờ như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn
Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn
Văn Tị… Tổ chức triển lăm gây tiếng vang lớn,
với nhiều tác phẩm giá trị.
Nhưng theo tài liệu [27] : Năm
1942, ông quy tụ các họa sĩ tài danh lúc bấy giờ,
lập ra nhóm Nghệ thuật An Nam, tổ chức nhiều
triển lăm gây tiếng vang lớn, với những tác phẩm
đi vào ḷng người như : bức tranh lụa Rèm
Thưa, Mẫu Tử, … tại Hội chợ Triển
lăm Mỹ thuật Quốc tế lần thứ nhất ở
vườn Tao Đàn Sài G̣n , bức Nắng Hè là một
trong những bức tranh lụa nổi tiếng nhất vẽ
vào năm 1954 tại Hà Nội .
Ông là một họa sĩ Á
Châu đầu tiên có tranh ở đó (Hội Chợ Triển
Lăm Mỹ Thuật Quốc Tế ?). Cùng thời với ông,
lúc ấy, tên tuổi họa sĩ Nhật Fujita đă lẫy
lừng khắp nơi, cũng chưa có cái vinh dự ấy.
.Năm 1959 ,Sở Văn hóa Thông tin Hoa Kỳ
đă in trang nhất bức Nắng Hè trên b́a lịch
tết để tặng bạn đọc. Tấm tranh
này làm nhớ lại bức sơn dầu của ông vẽ
năm 1934: “Trong Gia Đ́nh” cũng bố cục mẹ bồng
con nằm vơng và thêm nhiều nhân vật, đă triển lăm
tại Milan (Ư) và đă được Bộ Trưởng
Thương Mại Pháp Lamoureux mua về để treo tại
Viện Bảo Tàng Luxembourg.
Tác phẩm “Nắng Hè” - H́nh trích từ
tài liệu [28]
Tác phẩm “Trong Gia
Đ́nh” (1934) -h́nh trích
từ tài liệu [29]
Theo tài liệu [27] : Thời gian về nước là giai đoạn
ông hoàn thiện kỹ thuật vẽ tranh lụa, phối
hợp nền hội họa Thủy Mặc ngh́n năm của
Tàu, với bố cục và tỷ lệ vàng của các họa
sĩ thời phục hưng ở Châu Âu, sáng tạo ra nền
hội họa tranh lụa truyền thống Việt Nam. Bản
chất lụa Việt Nam, là loại lụa tơ tằm,
có gân, thớ lụa không mịn và đều như lụa
Tàu. Phần lớn họa sĩ miền Bắc dùng lụa
Hà Đông, ở miền Nam dùng lụa Tư Cua ở Gia
Định. Trước lúc vẽ, lụa được
căng lên khung gỗ, và tẩy bằng chanh hoặc phèn
chua đề pḥng dán, mọt gặm nhấm.
Khi vẽ th́ không vẽ theo lối
công bút của Tàu mà là nhuộm màu từng bước, mỗi
lần vẽ xong phải rửa cho cặn màu trôi đi,
sau đó lại nhuộm thêm cho đến khi thấy độ
màu ổn định mới thôi. Một bức tranh lụa
đẹp, ngoài nội dung, bố cục, màu sắc, phải
thể hiện được sự óng ả của thớ
lụa, chất lụa. Nếu vẽ rửa nhiều
nước th́ độ mướt của chất lụa
sẽ giảm, chà cọ nhiều tơ lụa sẽ bị
xù lông, hoặc mặt lụa bị ĺ, lụa không c̣n độ
bám của màu nữa, lúc đó người vẽ phải
thay lụa mới. Màu trắng trong tranh thường
được chừa lại bằng nền lụa, ngoài
nét ra, các mảng thường được dùng cọ bản
để đánh màu cho tan đều, chuyển độ
trung gian giữa nét và khối ḥa quyện vào nhau. Chính v́ thế,
tranh của ông thường óng ả, mềm mại, thớ
lụa rơ ràng, bố cục mạch lạc, quư phái, dễ
tạo nên cảm giác có một lớp nước rất mỏng,
trong trẻo, dịu dàng, đưa người thưởng
ngoạn quên đi phần nào cái đau khổ của phận
người, của một kiếp phù sinh.
Ngoài bột, màu, sơn dầu.
Lê văn Đệ nổi tiếng nhất là lụa,
cũng như Nguyễn Phan Chánh, người bạn đồng
khóa với ông. Nhưng hai tính chất của hai bực thầy
về tranh lụa Việt Nam khác nhau. Tranh Lê Văn Đệ
óng chuốt, có tính đài các, quí phái, ngược lại
tranh Nguyễn Phan Chánh tạo mặt phẳng dẹt, giữa
một gam màu nâu cố hữu, b́nh dị, mộc mạc,
mang đầy âm sắc quê hương. Tranh lụa của
hai ông này rất hiếm, khó t́m thấy.
Năm 1954, hiệp định
Genève được kư kết, chia đôi nước Việt
Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc
bị đặt dưới
chế độ cộng sản độc tài đảng trị, c̣n miền Nam
thuộc chính thể quốc gia tự do nhân bản.
Một số giáo sư và
sinh viên trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội di cư vào Nam. Chính phủ thời
bấy giờ quyết định thành lập trường
Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, và
cử họa sĩ Lê văn Đệ làm Hiệu trưởng
(giám đốc ?) đầu
tiên của trường.
Mặt khác theo tài liệu [3] :
Các giáo sư và sinh viên di cư
vào Nam đă tổ chức một Hội
Nghị Tối Cao Toàn Quốc họp tại Gia Định,
thỉnh nguyện lên chính phủ thành lập một trường
Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật. Do theo bản thỉnh
nguyện ấy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ Tướng
Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă kư nghị cho phép thiết
lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật
Gia Định và bắt đầu hoạt động.
Những sinh viên khóa đầu
tiên do vị thầy khả kính Lê văn Đệ hướng
dẫn đều đă thành danh như họa sĩ Trương Thị Thịnh,
Vũ Thị Ngà, Nguyễn Tánh
Đệ (Hiếu Đệ) , Thái Bá , Nguyễn Văn
Minh, Nguyễn Thanh Thu (điêu khắc gia), Lê Thành Nhơn
(điêu khắc gia) , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ
Hữu Thủ, Nguyễn Lâm …
(Xem thêm chi tiết về họa sĩ Trương Thị
Thịnh và điêu khắc gia
Nguyễn Thanh Thu trong Phụ đề 3) .
Và nhiều khóa kế tiếp
xuất thân từ “Ḷ Lê Văn Đệ” rất nổi tiếng
hiện nay như: nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn (vừa
mất tại Úc ngày 1 tháng mười một năm 2002),
Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thư, Nguyễn
Lâm… (Việt Nam), Nguyễn Phước (Minesota), Nguyên Khai,
Nguyễn Thị Hợp , Hồ Thành Đức (qua đời ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại
California) và nhiều họa
sĩ nổi tiếng khác .
(Phụ chú : Họa sĩ Hồ Thành Đức sáng lập
viên đồng thời là chủ tịch của Hội Họa
sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), giáo sư
hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh
(1969-1975), khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn
tại Đại Học Phương Nam (1974-1975) ).
Chúng ta c̣n giữ được
những kỷ niệm ǵ về Thầy” . Tôi (tác giả
tài liệu [3] ) không xuất
thân từ trường Mỹ Thuật Gia Định,
nhưng có hai năm trong hai giai đoạn ngắn học ở
đó : Năm Dự Bị và năm Sư Phạm. C̣n nhớ,
năm 1959 vào học lớp Dự Bị, tại dăy nhà sau
trại gia binh, giờ trang trí ngồi bàn với Hồ Hữu
Thủ, Mai Chững… Những người vẽ H́nh Họa
khá, được lên vẽ cùng năm thứ nhất, vào
tuần lễ tập vẽ than (fusain). Cuối tuần
được thầy Lê Văn Đệ vào sửa bài.
Làm Giám Đốc nhưng đích thân dạy lớp căn
bản nhất, tôi nhớ măi. Đó là một người
thầy sửa bài hay nhất. Chỉ cần một nét quệt,
ngón tay của Thầy vào bài thấy ngay chỗ sai, nét than
bay bớt đi, nét nhấn khối đậm thêm, h́nh vẽ
mới được chắc, độ đậm nhạt
cũng rơ ràng…
Tài liệu [27] cũng viết như trên : Giáo
sư họa sĩ Lê Văn Đệ là giám đốc của
trường, nhưng ông là một con người b́nh dị,
thích cái đẹp thôn dă, giàu ḷng vị tha, và đặc biệt
rất thương học tṛ; nên ông chọn dạy lớp
căn bản cho các tân sinh viên. Đối với học
sinh, ông là người nổi tiếng sửa bài hay nhất,
chỉ cần một nét quệt ngón tay của thầy vào
bài là sẽ thấy ngay chỗ sai, nét than bay bớt đi,
nét nhấn khối đậm thêm, bố cục mới
được chắc, đậm nhạt, âm dương
giao ḥa.
Theo tài liệu [3] : Ông Lê Văn
Đệ là một họa sư bậc thầy về
tranh lụa Việt Nam. Am hiểu sâu rộng nghệ thuật
phương Tây cũng như phương Đông. Luôn để
tâm trí và tấm ḷng ḿnh trong việc giáo dục, đào tạo
lớp môn sinh nối tiếp. Có công lớn sáng lập lại
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định,
đặt nền móng vững chắc cho Nghệ Thuật
Hiện Đại Miền Nam. Có thể mượn lời
của nhà viết lịch sử hội họa nghiêm túc là
Huỳnh Hữu Uỷ để kết luận:
“Sự đóng góp của ông
quả là khá lớn. Đối với thế giới, ông
đă làm vẻ vang cho giống ṇi, đối với trong
nước th́ ông đă xây dựng được một
đội ngũ tài năng nghệ sĩ tài năng để
nhân lên măi cuộc sống phong phú, đa dạng, có gốc
gác và rất hiện đại.”
Ông Lê Văn Đệ mất
ngày 16 tháng 3 năm 1966 tại Sài G̣n .
Theo tài liệu
[10] : Để vinh danh và tưởng nhớ
đóng góp của ông, năm 1973, trường Cao đẳng
Mỹ Thuật Sàig̣n cho dựng bức tượng chân dung
đặt ở sân trường do điêu khắc gia Lê
Thành Nhơn thực hiện. Sau năm 1975, bức tượng
đă bị dỡ đi, tuy nhiên vẫn được
lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố
Hồ Chí Minh (Sic) cho
đến ngày nay.
Phụ đề
3 : Họa
sĩ Trương Thị Thịnh và điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu - Khóa 1 năm
1958 của trường Quốc gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định
1- Họa
sĩ Trương Thị Thịnh
Giáo sư
Lê Văn Đệ và nữ họa
sĩ Trương Thị Thịnh- H́nh trích từ
tài liệu [26]
Bà làm giáo sư hội họa trường
trung học Petrus Kư từ 1959 đến 1962. Chuyển qua
làm giáo sư chuyên nghiệp Mỹ Thuật Thuần Túy của
trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật
Sàig̣n từ 1964 đến 1975, sau
đó của trường Đại Học Mỹ
Thuật thành phố hcm
(Sic) đến 1980.
Năm 1986 đến Washington DC Hoa Kỳ.
Bà định
cư tại thành phố San Jose, miền Bắc California USA từ năm 1988.
Năm 2002 nhận Certifica of Recognition của tiểu bang
California công nhận là người nghệ sĩ đă dùng
toàn thời gian 50 năm cho nghệ thuật hội họa.
Hoạ sĩ lăo thành Trương Thị Thịnh (phải ) & hoạ
sĩ Cát Đơn Sa (trái ) -San Jose 6-26-2017
2- Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu
Theo tài liệu [30] : Điêu
khắc gia Nguyễn Thanh Thu tên thật là Nguyễn Văn
Thu, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1934, tức ngày 15 tháng 12 âm lịch,
năm Quư Dậu, tại Gia Định .
Ông Thu có năng khiếu hội
họa đặc biệt khi c̣n nhỏ, nên được
cha hướng theo nghệ thuật. Năm 1949, học hết
lớp Đệ Tứ (lớp 9), ông thi đậu trường
Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định (École des Arts
appliqués de Gia Đinh). Đây là ngôi trường danh giá,
thành lập từ 1913, do các họa sĩ Pháp giảng dạy
nên ông có cơ hội tiếp xúc ngay với mỹ thuật
Phương Tây. Suốt bốn năm học, các thầy
Pháp ngạc nhiên trước tài năng của học tṛ
nên khuyên ông theo con đường mỹ thuật cho đến
trọn đời.
Năm 1953 ông đậu vào
trường Mỹ Thuật Gia Định, học cùng lúc
hai ngành Mỹ Thuật và Giáo Khoa Hội Họa trong 6
năm, mất gấp đôi thời gian. Họa sĩ Lê
Văn Đệ, Giám đốc trường, hướng
ông theo lĩnh vực điêu khắc. Ông nói, trong sự nghiệp
sáng tác của ḿnh có dấu ấn của thầy Đệ.
Tốt nghiệp năm 1958,
ông được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm
dạy tại hai trường: Trung học Vơ Trường
Toản và Mỹ Thuật Gia Định.
Nghiệp giáo chức
được bốn năm th́ bị gián đoạn trong
7 năm do binh nghiệp.
Năm 1969, ông được Biệt
Phái Ngoại Ngạch, trở lại dạy tại hai
trường trên cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Ông
có nhiều tác phẩm được lưu giữ tại
trường Mỹ Thuật Gia Định nhưng tất
cả đều biến mất sau ngày Sài G̣n sụp đổ.
Ngày 17 tháng 2 năm 1962, ông nhập
ngũ theo lệnh Tổng Động Viên. Ông học khóa 13
trường Vơ Khoa Thủ Đức, thuộc lực
lượng Sĩ Quan Trừ Bị. Tốt nghiệp tháng
12 năm 1962, ông được bổ nhiệm tại
“Trung Tâm Khảo Sát Kỹ Thuật Quân Nhu”, với chức
vụ Chuyên viên Đài Án Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa
và Bốn Vùng Chiến Thuật.
Suốt bảy năm trong
quân ngũ, ông dành phần lớn thời gian để sáng
tác đề tài người lính VNCH, tất cả là những
tuyệt tác của nền điêu khắc quốc gia
đang vào thời cực thịnh. Đó là tượng
Ngày Về (giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật
Ngô Đ́nh Điệm), tượng Quyết Thắng,
tượng Chiến Sĩ Vô Danh (bùng binh Tổng Đốc
Phương), tượng Trung Liệt (Nghĩa Trang Quân
Đội G̣ Vấp)… Trong đó bức tượng
Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân
Đội Biên Ḥa là một kiệt tác nghệ thuật mà
người đời sau vẫn c̣n nhắc măi. (Xem thêm chi
tiết về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa trong
bài Nghĩa địa ở Sàig̣n - Gia Định
trước năm 1975-
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa của cùng tác giả).
Tiếc
Thương qua nét vẽ
của ông Nguyễn
Thanh Thu-H́nh trích từ tài liệu
[31]
Bức
tượng Thương Tiếc
– H́nh trích từ tài liệu
[32]
Tượng
đài Thương Tiếc
- H́nh trích từ tài liệu
[31]
Khi biệt
phái năm 1969 ,ông mang
cấp bậc Đại Úy.
Các đồng
nghiệp nước
ngoài đánh giá ông Thu là Điêu khắc gia xuất sắc nhất ở Việt
Nam. Đại tá H.G.
Fuller, Bộ Chỉ huy Lục Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV) đă
viết: “… xét
về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân
trọng đặt tượng Thương Tiếc
và các tác
phẩm khác của ông ngang
hàng với bức ảnh nổi tiếng ‘Raising The Flag on Iwo Jima’ (Dựng
Cờ Trên Đảo Iwo Jima) ở Arlington” – sau này được
dựng thành tượng “Thủy Quân
Lục Chiến Hoa Kỳ”.
Sau khi Sàig̣n
thất thủ, ngày 16 tháng 5 năm 1975 một nhóm người ( côn đồ) đột nhập vào nhà ông
Thu lúc 2 giờ đêm,
bắt ông đi. Ông bị
giam, đánh đập tàn nhẫn đến gần chết rồi thả ra sau 7 ngày. Hành
động này chỉ là một
sự trả thù của nhóm
người “bên thắng cuộc” chứ không nhằm điều tra ǵ cả.
Vào
cuối tháng 6 năm 1975 (chỉ khoảng 2 tuần sau lần đột
nhập lần thứ nhứt) , một nhóm
người hung hăn đă xông
vào nhà ông
đập nát các bức tượng,
có bức cao 4 thước về người lính Việt Nam Cộng Ḥa, đó là
bức Quyết Thắng
và bức
Thương Tiếc (bằng
bê-tông là khuôn đúc của bức
Thương Tiếc bằng
đồng). Bức
tượng Ngày Về nằm khuất sau những cây dây leo nên
đă thoát hiểm.
Không
chứng kiến cảnh đập phá này v́
một tuần trước đó, ngày 23 tháng 6 năm 1975, ông đă bị bắt vào trại
tập trung để bắt đầu một cuộc tù đày
giống như bao sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa phải chịu sau ngày chiến
tranh kết thúc.
Những
ngày đầu tại trại Hàm Tân, biết ông là tác
giả tượng
Thương Tiếc, bọn
cai tù đă
dùng nhục h́nh, làm cho
thính lực của ông bị
mất hoàn toàn. Tiếp theo là 7 tháng cùm chân rồi
hai năm biệt giam trong conex. Để
khuất phục ông, bọn cai tù đă
bắt ông tạc tượng ông Hồ Chí Minh (tên đại tội đồ của dân Việt Nam) để
đánh đổi thoát khỏi biệt giam trong conex. Sau hai tháng hoàn
tất, ông đă cho ra đời bức tượng cao 4 thước… tượng
Tổng Thống Việt
Nam Cộng Ḥa, ông Nguyễn Văn Thiệu !
Ngày
02/09/1977, trại giam
Hàm Tân không có tượng Hồ Chí Minh (Sic) để
làm lễ mà thay bằng
sự ồn ào từ các
tù nhân và
sự nổi giận của bọn cai tù
rồi biến
thành trận đ̣n thù dă
man giáng lên tác giả của
bức tượng.
Với
hành động bất khuất này, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh
Thu đă tạo nên một tiếng
vang lan truyền ra khỏi biên giới quốc gia đang bị thế giới cô lập và
măi măi trở
thành “một pho tượng” người lính Việt
Nam Cộng Ḥa bất
tử.
Ngày
24 tháng 6 năm 1983 , ông được
trở về với gia đ́nh
sau 8 năm tù và bị
giam lỏng tiếp tại nhà trong bốn
năm. Ông đă sử dụng thời gian này để
hồi phục sức khỏe, dạy điêu khắc để chờ ngày vượt biên.
Hết
hạn quản chế, ông đă đào thoát qua ngă Kompongsom.
Sau hai ngày lênh đênh trên biển, ngày 28 tháng 12 năm 1987 ông đă đặt chân lên đảo
Ko Kut (Thái Lan) cùng với
bức tượng mẫu Thương Tiếc
bằng thạch cao, cao 50 phân
(cm) đă được
Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu duyệt. Ông
lần lượt
qua các trại tị nạn Leam Ngob, Panat Nikhom.
Bức
tượng mẫu
Thương Tiếc bằng
thạch cao, cao 50 cm – H́nh trích từ tài liệu [30]
Điêu
khắc gia Nguyễn
Thanh Thu với các tiêu bản Thương Tiếc của ḿnh (H́nh gia
đ́nh cung cấp) - H́nh trích từ tài liệu [33]
Tại
Panat ông đă tạc bức Phật Bà Quan Âm, cao 4m theo
yêu cầu của Hoàng Gia Thái Lan và cũng để tạ ơn Người đă giúp ông thoát
nạn. Cùng với bức tượng trong trại tù Hàm
Tân kể trên, đây là tác
phẩm thứ hai của ông
sau ngày 30/4/1975 và cũng là
tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi của ông. Những ngày sau đó
ông chỉ tạc những bức tượng theo yêu cầu
của bạn bè.
Sau hai năm ở đảo, ông được định cư tại Hoa Kỳ.
Với
thính lực gần bằng không, ông thấy
ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh nơi
xứ người.
Trong 15 năm sống
ở Mỹ ông hy vọng từng
ngày cộng đồng giúp ông phục dựng lại bức tượng
Thương Tiếc, nhưng
điều đó đă không bao giờ đến. Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm ǵ khác.
Ông không t́m thấy niềm vui ở chốn này và lặng lẽ
trở về Việt
Nam, bỏ lại cảnh cô độc
cùng sự ngưỡng mộ của muôn vạn người đồng hương tỵ nạn.
Trở
về mái nhà xưa :
Cũng
với tâm trạng u uất như ngày trở
về từ trại tù Hàm
Tân, Ông âm thầm đến thăm từng bức tượng trong sân nhà
như kể lể:
“Ta về
như bóng ma hờn tủi ;
Lục
lại thời gian kiếm chính ḿnh”
- Tô Thùy Yên
Ông
linh cảm rằng, những linh hồn đang lẩn khuất quanh đây nay lại
nhập vào tượng đá để đón mừng cố nhân. Ông sống
kín đáo, cô độc trong một căn pḥng nhỏ ở cuối mảnh đất rộng bằng một nửa sân bóng đá.
Ông may mắn
có sự quan tâm của
người cháu và một vài
học tṛ cũ Vơ Trường Toản lớp 6/5 khóa 1971. Các người này giúp ông vượt
qua những thiếu
thốn trong sinh hoạt và sửa lại
căn pḥng khang trang với
những tiện nghi tối thiểu.
Trong ba năm cuối đời, sức khỏe ông suy dần để
rồi Ông đă ra đi vĩnh viễn vào ngày 6 tháng
5 năm 2025 tại tư gia, cũng
là xưởng sáng tác năm
xưa ở G̣ Vấp.
Ông
Thu nói rằng: “Điêu khắc là nghề do thân sinh chọn,
nghiệp giáo do tôi chọn, c̣n binh nghiệp
do tổ quốc đă chọn cho tôi. Tôi
đă sống trọn cuộc đời cùng Nghề và Nghiệp
với lư tưởng TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH
NHIỆM”.
Thương Tiếc
Ông, một Tượng Đài bất khuất!
Điêu
khắc gia Nguyễn
Thanh Thu – h́nh trích từ tài liệu
[33]
Tài liệu tham khảo :
1.
http://kmvietnameseart.com/truong-cao-dang-thuat-dong-duong/ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương .
2.
https://hsvnhaingoai.wordpress.com/nghe-thuat/truong-cao-dang-my-thuat-sai-gon/ Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n.
3.
https://www.facebook.com/groups/779012369390643/posts/1631905317434673/ Chợ tranh Việt Nam( Vietnam Art Network) Nguyễn Duy Cường Admin - 4 mars -Tưởng Nhớ
Họa Sĩ Lê Văn Đệ - Đinh
Cường .
4.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn
bằng tốt nghiệp ở miền Nam
trước 1975 .
5.
Huỳnh Minh-Gia Định xưa và nay-Nhà xuất
bản Khai Trí-1973 .
6.
https://hcmufa.edu.vn/tongquan/ Trường Đại học Mỹ thuật thành
phố hcm .
7.
Minh An-Trường
vẽ Gia Định - Thơm tiếng trăm năm -
Họa sĩ Việt Nam Hải Ngoại 12/11/2013 .
8.
https://hsvnhaingoai.wordpress.com/nghe-thuat/truong-cao-dang-my-thuat-sai-gon/ Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n - Cát Đơn Sa &
TTThịnh .
9. Bách khoa toàn thư -Trường Đại học
Mỹ thuật Thành phố hcm
.
10.
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_%C4%90%E1%BB%87_(h%E1%BB%8Da_s%C4%A9) Lê
Văn Đệ (họa sĩ) .
11.
http://www.donghotruonghoan.vn:8082/ho%E1%BA%A1-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-v%C4%83n-long Họa
sĩ Nguyễn Văn Long.
12.
https://tgpsaigon.net/bai-viet/ve-bo-suu-tap-nghe-thuat-cua-co-linh-muc-da-minh-tran-thai-hiep-36675 Về bộ
sưu tập nghệ thuật của cố linh mục
Đa Minh Trần Thái Hiệp - Nguyên Hưng - 13/06/2012.
13.
https://www.facebook.com/Art360.top/posts/h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-anh-t%C3%AAn-th%E1%BA%ADt-l%C3%A0-nguy%E1%BB%85n-v%C4%83n-anh-sinh-n%C4%83m-1914-t%E1%BA%A1i-s%C3%A0i-g%C3%B2n-v%C3%A0-m%E1%BA%A5t-n%C4%83/138946971205213/ Publication de Art360.top - Art360.top - 14 août 2020.
14.
https://www.facebook.com/kyucvehanoi/posts/tranh-%C4%91%C3%AAm-th%C3%A1nh-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-anh%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-v%E1%BA%BD-r%E1%BA%A5t-nhi%E1%BB%81u-tranh-ch%E1%BB%A7-%C4%91%E1%BB%81-/1008571824631227/ Publication de Kư ức Hà
Nội - Kư ức
Hà Nội - -Tranh ‘’Đêm Thánh’’
của họa sĩ Nguyễn Anh - 24 décembre
2024.
15.
https://www.facebook.com/permalink.php/?story_fbid=467636503339695&id=429053380531341&locale=fr_FR Kiến trúc sư -10 juillet 2014 -Họa sĩ
Lưu Đ́nh Khải (1910 - 1997) .
16.
https://www.cgvdt.vn/xa-hoi/bac-thay-chuan-muc-ve-dao-tao-my-thuat_a10124 Bậc
thầy chuẩn mực về đào tạo mỹ thuật...
- LM Giuse Nguyễn Hữu Triết - Trưởng ban
Mục vụ Văn hóa TGP.TPHCM- 12/11/2019 .
17.
https://www.facebook.com/groups/306029804603532/posts/1187212216485282/ Mỹ Thuật Gia Định -Tuấn
Nhipphong – Admin 31 mai - Hoạ
sĩ: Nguyễn Văn Quế .
18.
https://memaimotdoi.blogspot.com/2013/04/bo-suu-tap-tranh-cua-toi.html Bộ
sưu tập tranh cũa tôi -20/4/2013 -Họa sĩ Lê Yên .
19.
https://www.leauctions.vn/hoa-si-bui-kinh-va-tac-pham-thieu-nu-ben-long-chim/ Họa
sĩ Bùi Kỉnh và tác phẩm “Thiếu nữ bên lộng
chim” .
20.
Nội San Danh Từ Chuyên Môn-Số 6-Bộ
Giáo Dục-Trung Tâm Học Liệu-Tháng 6 năm 1972 .
21.
http://kmvietnameseart.com/truong-cao-dang-thuat-dong-duong/ Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương-Quang Việt-
Source: Hội Mỹ Thuật Việt Nam/ The
Vietnam Fine Arts Assocication.
22.
https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/truong-my-thuat-dong-duong-khoi-nguon-cua-nen-my-thuat-viet-nam.htm trường
Mỹ thuật Đông Dương - khởi nguồn của
nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại -Hoàng
Hằng - 24/10/2024 .
23.
https://weart.vn/tin-tuc/cac-hoa-si-truong-cao-dang-my-thuat-dong-duong/ Các họa
sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông Dương và di sản - Posted on 20/05/2025 by Team We Art .
24.
https://tuoitre.vn/lich-su-hao-quang-cua-my-thuat-dong-duong-20240113094018873.htm Lịch sử hào quang của Mỹ Thuật
Đông Dương- Thiên Điểu.
25.
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_L%E1%BB%B1u Lê Thị
Lựu .
26.
https://hoasivietnam.wordpress.com/tham-kh%E1%BA%A3o/le-van-de/tieu-su-le-van-de/ Tiểu
sử Lê Văn Đệ .
27.
https://tgpsaigon.net/bai-viet/hoa-si-le-van-de-nguoi-dau-tien-kham-pha-tranh-lua-truyen-thong-viet-nam-44064 Họa
sĩ Lê Văn Đệ: người đầu tiên khám
phá tranh lụa truyền thống Việt Nam - Lê
Hiếu -03/11/2009 .
28.
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1138344474311374&id=100044074961554&set=a.105714617574370
29.
https://mythuatbui.edu.vn/hoa-si-le-van-de-mot-bac-thay-ve-tranh-lua-viet-nam/ Họa
sĩ Lê Văn Đệ – Một bậc thầy về
tranh lụa Việt Nam .
30.
https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/thuong-tiec-tien-dua-nhat-phien-tai-tinh-dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu/
Thương tiếc tiễn đưa “nhất phiến
tài t́nh”: Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu - Nguyễn Tuấn
Khoa -09/05/2025 .
31.
https://baotreonline.com/van-hoc/tap-ghi/dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu-buc-tuong-thuong-tiec.baotre -
Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu & Bức tượng
“Thương Tiếc ‘’ .
32. https://hoasivietnam.wordpress.com/dieu-khac/nguyen-thanh-thu/ Họa
sĩ Việt Nam- Nguyễn Thanh Thu .
33. https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu-gia-tu-tran-the/ Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu giă từ trần thế - Y
Nguyên –06/05/2025.