Các Trường Quốc Gia Cao Đẳng ở Sài g̣n và Gia Định trước năm 1975


TM tổng hợp và bổ túc

Lời mở đầu :

Bài này là một tổng hợp và bổ túc lược sử thành lập của các  trường Quốc Gia Cao Đẳng ở Sàig̣n và Gia Định trước năm 1975.

Tuy nhiên phần lớn các trường này tọa lạc trong khuôn viên cũa Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ và sau đó  trực thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức , v́ vậy  sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập tới hai cơ sở này.

V́ vậy, phần tŕnh bày của bài này đă được xắp xếp theo thứ tự như sau :

A.    Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ ;

B.    Viện  Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ;

C.    Các trường Quốc Gia Cao Đẳng theo năm thành lập .

 

Sau đây là mục lục của bài   :

1.     Năm 1957 - Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

2.     Năm 1957 - Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức - Quận Thủ Đức-Tỉnh Gia Định ;

3.     Năm 1902 - Trường Cao Đẳng Công Chánh - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

4.     Năm 1924 - Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n- Đại Lộ  Chi Lăng ̣và Nguyễn Văn Học -Gia Định ;

5.     Năm 1938 - Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) - Số 45 đại lộ Cường Để-Quận 1-Sàig̣n ;

6.     Năm 1940 - Trường Cao Đẳng Hàng Hải -  Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

7.     Năm 1952 - Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ( Trường Quốc Gia Hành Chánh ) -  Số 10, đường Trần Quốc Toản - Quận 10-Sàig̣n ;

8.     Năm 1956 - Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

9.     Năm 1956 - Trường Quốc Gia Thương Mại - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

10.  Năm 1957 - Trường Cao Đẳng Điện Học - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

11.  Năm 1962 - Trường Cao Đẳng Hóa Học - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n ;

12.  Năm 1962 - Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật- Quận 10-Sàig̣n & Thủ Đức-Gia Định;

13.  Năm 1963 - Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc - Quận 1- Sàig̣n ;

14.  Phụ lục  : Những mốc thời gian quan trọng trong quá tŕnh  xâm chiếm Việt Nam và xây dựng các hạ tầng cơ sở thiết yếu bởi người Pháp .

 

(Chú thích : Năm ghi trong danh sách ở trên là năm thành lập của các cơ sở tiền thân của các  trường Quốc Gia Cao Đẳng ở Sàig̣n và Gia Định) .

Tác giả TM đă tổng hợp các tài liệu tham khảo t́m thấy trên mạng cùng lúc cập nhật hóa  và bổ túc thêm với những chi tiết như danh sách các giám đốc ,giáo sư,trường sở, học tŕnh và h́nh ảnh xưa cũng như nay.

Trước khi xử dụng các  tài liệu sưu tầm trên mạng,TM đă kiểm soát chéo (cross check) lẫn nhau những dữ kiện từ các nguồn này  trước khi tổng hợp.Tuy vậy, dù đă cố gắng tối đa nhưng chắc chắn bài viết vẫn c̣n thiếu sót.Tác giả rất vui mừng đón nhận những phê b́nh, chỉ dẫn và bổ túc của các vị độc giả  để có thể  hoàn thiện bài này .

V́ lư do rất hiển nhiên là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Viện  Đại Học Bách Khoa Thủ Đức và các trường Quốc Gia Cao Đẳng đều được thành lập và hoạt động từ trước năm 1975,  do đó bài này chỉ dùng các danh từ, ngữ vựng, thành ngữ,các tên đường và địa chỉ đă được đặt ra và xử dụng trước năm 1975 của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Để dễ dàng việc định vị các cơ sở này, bản đồ  Đô Thành Sàig̣n và vùng phụ cận trước năm 1975, được  đính kèm dưới đây.

 

Qua bài tổng hợp này, những điểm nổi bậc đáng chú ư được ghi nhận như sau :

1.     Các trường Quốc Gia Cao Đẳng ở Sàig̣n và Gia Định trước năm 1975 được thành lập theo khuôn khổ các trường Quốc Gia Cao Đẳng Pháp ,ngay cả tên hiệu cùa trường cũng tới từ phiên dịch các tên trường Pháp. Điều này rât dễ hiểu bởi v́ phần lớn các trường này được thành lập bởi các giáo sư, kỹ sư hay chuyên viên tốt nghiệp từ các trường Quốc Gia Cao Đẳng Pháp hay từ các trường thành lập ở Việt Nam vào thời Pháp thuộc . (Các mốc năm tháng thành lập các cơ sở giáo dục  và văn hóa bởi người Pháp được ghi trong Phụ Lục ở cuối bài ).

Chỉ vào khoảng cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, các trường Cao Đẳng này bắt đầu  tổ chưc theo mô h́nh  các  đại học bách khoa (polytechnic university)  Hoa Kỳ . Riêng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh từ năm 1971 đến 1975 , đă được sự hỗ trợ của Phái Đoàn IPA ( Institute of Public Administration) , nhờ vậy  chương tŕnh học luôn cải tiến ;

Các trường Quốc Gia Cao Đẳng này là những trường danh giá (prestigieux) cấp đại học duy nhất của miền Nam- Việt Nam (ngoại trừ  Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n bởi v́ vào năm 1957,   có thêm trường Cao Đẳng Mỹ thuật Huế ở Huế ) ;

Các sinh viên được nhận vào thường là các học sinh rất gịi về các môn khoa học như Toán, Lư Hóa, Vạn Vật… và phải qua các cuộc thi tuyển rất khó khăn trong hằng ngàn thí sinh dự tuyển. Ngoài ra, để được nhận vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n hay Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, các thí sinh c̣n phải có khiếu nghệ thuật hay có năng khiếu chính trị theo dỏi thời cuộc, lưu tâm đến hiện h́nh đất nước hay t́nh h́nh thế giới ;

2.     Giám đốc đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n là ông Lê Văn Đệ. Ông tốt nghiệp khóa 1  trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương năm 1930 và đi  tu nghiệp tại trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Pháp (École Nationale Supérieure des Beaux Arts). Vào lúc 30 tuổi, ông được Ṭa Thánh La Mă (Vatican) bổ làm họa sĩ cho Ṭa Thánh và được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican.  Công tŕnh do ông chỉ đạo thực hiện đă được báo chí , Pháp, và nhiều nước trên thế giới đánh giá cao về phẩm chất (qualité) tuy số lượng không nhiều. Ông được ban thưởng Giáo Hoàng Bội Tinh ;

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n đă đào tạo được nhiều họa sĩ khóa đầu thành danh như họa sĩ  Trương Thị Thịnh, Vũ Thị Ngà,  Nguyễn Tánh Đệ (Hiếu Đệ) , Thái Bá , Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thanh Thu (điêu khắc gia), Lê Thành Nhơn (điêu khắc gia) , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm … Và nhiều khóa kế tiếp ,các họa sĩ rất nổi tiếng  như: nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thư, Nguyễn Lâm , Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Thị Hợp ,  Hồ Thành Đức và nhiều họa sĩ nổi tiếng khác ;

3.     Giáo sư , Bác sĩ Thú Y Vũ Ngọc Tân, giáo sư  Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện, giáo sư Lê Văn Kư và giáo sư Bùi Huy Thục là “tứ trụ” xây dựng trường lớp, cư xá, thư viện, giảng đường, nông trại…. cho  trường  Quốc gia Nông Lâm Mục Blao ;

Giáo sư Vũ Ngọc Tân , giám đốc đầu tiên của trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, thời sinh viên v́ học giỏi và có trách nhiệm với công việc nên được giáo sư Patron, thầy của ông Tân ở trường Cao Đẳng Thú Alfort (Pháp) ,thương yêu đến nỗi gả con gái cưng cho ông . Bà này theo chồng về Việt Nam ,dạy môn sử địa  (chương tŕnh Pháp)  ở trường trung học  Pétrus Kư . Trong thời gian ở trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, mặc dù không có nhiệm vụ, Bà cũng chăm lo cho sinh viên, nhất là môn thực hành ngoài trang trại, khi có sinh viên bị ốm ngất xỉu, bà mang túi y tế ra tận hiện trường để săn sóc tận t́nh như một người mẹ ;

4.     Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ có hai vị Giám Đốc Huyền Thoại :

a.     Ông Trần Văn Bạch,kỹ sư  Cầu Cống khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris - Pháp ( Kiều Lộ) ,là giám đốc đầu tiên của  trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ Phú Thọ. Ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến hay trong khuôn viên của Nha Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ. Ông Bạch người miền Nam, rất b́nh dị , khi nói chuyện với sinh viên , ông  tự xưng là Qua " Qua nói cho mấy em nghe…" ;

b.     Ông Văn Đ́nh Vinh, kỹ sư Arts Et Métiers và kỹ sư Điện ở Pháp, là giám đốc  thứ hai . Trông ông rất bận rộn, nhưng ông lúc nào cũng lo đầy đủ cho trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ , cả những việc không trong học vấn, như có lần ông cho lấy chiếc xe autobus  và tài xế của Sở Hỏa Xa để chở sinh viên năm thứ I và II đi Nha Trang chơi mùa Hè năm 1958.  Chuyến đi nầy, ông c̣n lo cho sinh viên có chỗ ở .   Năm sau, 1959, ông Vinh lại cho giấy xe lửa miển phí đi Huế để sinh viên tự tổ chức du ngoạn.  Đó là 2 mùa Hè mà một số sinh viên chắc không bao giờ quên .

5.     Trong số sinh viên xuất thân từ trường Công Chánh có 3 người nổi tiếng yêu nước lưu danh hậu thế . Đó là  các ông Phan Văn Hùm (tốt ngiệp năm 1922), Phó Đức Chính và Nguyễn Hiến Lê (tốt nghiệp năm 1934). Ngoài ra, một trong những sinh viên của trường,  ông  Trần Văn Mẹo vào thời Đệ Nhất Cộng Ḥa làm Bộ Trưởng Công Chánh kiêm Bộ Trưởng Kinh Tế (1955-1956) ;

6.     Trường Cao Đẳng Hàng Hải  đă đào tạo được một số  sinh viên sau này giữ những chức vụ  tối cao của miền Nam Việt Nam, điển h́nh có :

a.     Ông Nguyễn Văn Thiệu là một Tướng lănh của Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và cũng là vị Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam ;

b.     Các Đề Đốc Trần Văn Chơn, Chung Tấn Cang, Lâm Nguơn Tánh, Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Đặng Cần Chánh.... là  các chỉ huy cao cấp của binh chủng Hải Quân,quân lực Việt Nam Cộng Ḥa ;

 Ngoài ra c̣n có ông Nguyễn Hùng Trương sau là chủ nhà sách Khai Trí và  Thuyền Trưởng Phạm Ngọc Lũy ngày 30/4/1975 đă lèo lái con tàu Trường Xuân với gần 4,000 thuyền nhân ra khơi ;

7.     Học Viện Quốc Gia Hành Chánh cũng  đă  đào tạo được một số sinh viên sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.

a.     Trong ngành Hành Pháp có Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, các tổng trưởng :  Bửu Viên (Nội Vụ), Châu Kim Ngân  (Bộ Tài Chánh), Vũ Công (Lao Động), Bà Lư Hoa  (Tổng Giám Đốc Ngân Khố ) ...và các Đốc Sự Phó Quận Trưởng, Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng ;

b.     Trong ngành Lập Pháp có Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn,các Thượng Nghị Sĩ:   Hoàng Xuân Hào và  Lê Châu Lộc, các Dân Biểu : Phạm Duy Tuệ , Nguyễn Văn Quí , Nguyễn Văn Tiết, Lê Tấn Trạng, Trương Vỹ Trí .

 

01- Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

Theo tài liệu [1,2,3,4] : Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, đă được thành lập vào tháng 6 năm 1957, theo sắc lệnh số 213-GD ngày 29/6/1957 của Tổng Thống  Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm.

 

 

 Huy hiệu Trung tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ tọa lạc trên một khu đất rộng hơn 10 mẫu tây (14,5 mẫu  theo tài liệu [5]), mặt trước ngó ra đường Nguyễn Văn Thoại, hai bên là  đường Tô Hiến Thành, đường Bắc Hải và một con đường sau lưng không tên,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sài g̣n. Đối diện  với Trung Tâm là  cư xá Lữ Gia gần  bên trường đua Phú Thọ ,đằng sau là cư xá Bắc Hải  và nghĩa địa Chí Ḥa.

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ  v́ nằm trong  khu Phú Thọ nên thường được gọi là Trường Kỹ Thuật Phú Thọ  hay Trường Kỹ Sư  Phú Thọ.

 

Cổng trước Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ đường Nguyễn Văn Thoại bên cư xá Lữ Gia - Năm  1986 - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nh́n từ đường Tô Hiến Thành gần cổng sau -  Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [2] - Sau năm 1975,ven đường được trồng khoai ḿ và rau muống

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ chụp ở đường Tô Hiến Thành – Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Văn pḥng Hiệu Trưởng (Giám đốc), pḥng Tổ Chức ,Tài Vụ…- Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Vào năm 1957 ,Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ được thành lập từ việc tổng hợp của 4 trường, đó là:

1.     Trường Cao Đẳng Công Chánh : Nguyên thủy được thành lập vào năm 1904 (hay 1911) tại Hà Nội . Đến năm 1947, trường được tái lập ở Sàig̣n. Trường  đào tạo cả 2 bậc kỹ sư  và cán sự  ;

2.     Trường Cao Đẳng Hàng Hải :  Ch́nh thức thành lập vào năm 1951, đào tạo  Chỉ huy  thuyền trưởng và cấp cán sự cơ khí.

3.     Trường Cao Đẳng Công Nghệ  được mở ra vào năm 1956 và được  chính thức hóa  vào năm 1957. Trường đào tạo cấp kỹ sư cho các ngành Công Kỹ Nghệ.

4.     Trường Cao Đẳng Điện Học : Thành lập vào năm 1957, đào tạo 2 cấp : kỹ sư và cán sự.

 

V́ học tŕnh của các trường cao đẳng trực thuộc của Trung tâm giáo dục này khác nhau, nên bắt đầu niên học 1958, Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa điều chỉnh lại để cả ba ngành công chánh, công nghệ và điện học  để đều đào tạo kỹ sư 4-5 năm học hoặc cán sự 2 năm học.

Năm 1960, Trường Bách Khoa Trung Cấp xây cất xong trong khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, thu nhận khóa đầu tiên theo học, gồm học sinh các Trường Cao Thắng và Thực Nghiệp thi tuyển vào ( theo tài liệu [6] ).

Năm 1962, trường Cao Đẳng Hóa Học được thành lập trong  khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật. Vào những năm đầu , trường này mặc dầu mang tên Cao Đẳng nhưng chỉ đào tạo  cán sự hóa học. Tới năm 1968, trường được nâng lên bậc  Cao Đẳng.Bên cạnh việc đào tạo  cán sự hóa học ,  trường c̣n đào tạo kỹ sư hóa học.

Cũng vào năm 1962, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được thành lập trong  khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (theo tài liệu [7,8] ).  Trường này đào tạo giáo sư đệ nhất cấp (giáo sư  dạy nghề), thời gian đào tạo 2 năm và giáo sư  đệ nhị cấp (giáo sư kỹ thuật) cho các trường trung học kỹ thuật trên toàn cơi miền Nam Việt Nam.

Cuối năm 1965 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nhận thêm  trường Quốc Gia Thương Mại trung cấp thành lập năm 1956  trong  khuôn viên Nha Kỹ Thuật Học Vụ-quận 1 và dọn về đây (theo tài liệu [1,5]).

Từ  sau năm 1974, các trường Cao Đẳng Công Chánh , Cao Đẳng Công Nghệ, Cao Đẳng Điện Học và  Cao Đẳng Hóa Học  chỉ  đào tạo kỹ sư, không đào tạo cấp cán sự.

Hơn 20.000 mét vuông (2 mẫu) trong khuôn viên rộng 10 mẫu  của Trung tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ , được xử dụng để  xây dưng  bảy ṭa nhà hai và ba tầng gồm văn pḥng, lớp học giảng đường, thư viện, các pḥng thí nghiệm và và riêng  các cơ xưởng công nghệ rộng hơn 6000 mét vuông, theo số liệu năm 1972.

Theo tài liệu [9] : Trung Tâm  Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ cũng có khu thể thao, thiết kế ban đầu dành cho 1.600 sinh viên của tất cả các hệ và 200 cán bộ, nhân viên, giáo sư.

Theo tài liệu [2] : Các giáo sư giảng dạy tại Trung Tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ được tuyển chọn, theo công bố năm 1972 th́ cấp Giảng nghiệm viên (nay gọi là trợ giảng) cần có bằng Cử nhân hoặc Bachelor , cấp Giảng sư  hay Giáo sư cần có bằng Cao học Khoa học hay  bằng Master hoặc văn bằng cao hơn cấp Tiến sĩ kỹ sư hoặc Tiến sĩ quốc gia, hoặc Ph.D.

Sau đây là  danh sách các vị  Giám Đốc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật từ lúc mới thành lập đến năm 1975 (theo tài liệu [10] ) :

Lê Sĩ Ngạc Kỹ Sư Kiều Lộ:  1957-1964;

(Phụ chú :  Ông Lê Sĩ Ngạc c̣n là giám đốc trường Cao Đẳng Hóa Học năm 1962-1963);

Nguyễn Chánh Kỹ Sư Bách Khoa, Kỹ Sư Kiều Lộ : 1964- 1965 ;

Lê Sĩ Ngạc Kỹ sư Kiều Lộ :  1965-1968;

Phan Ngọc Thế MSCE, Ph. D  : 1968-1969;

Bùi Tiến Rủng MSCE, Ph. D :  1969-1971;

Nguyễn Ngọc Thịnh Tiến Sĩ Kỹ sư Thủy Lợi : 1971-1972;

Phạm Hửu Hiệp Tiến sĩ khoa học : 1972-1973;

Đặng Lương Mô Tiến sĩ kỹ sư Điện:  1973-1974;

Nguyễn Thanh Toàn Kỹ sư Công Chánh,MSCE, Ph. D :  1974-1975 .

 

Điều kiện để dự thi vào Trường: Thí sinh phải có Tú Tài Toán, hoặc Tú Tài Kỹ Thuật Toán hay một văn bằng tương đương. Tất cả thí sinh sẽ qua một kỳ thi tuyển gắt gao,  thi cùng môn với nhau, khi ghi danh sẽ chọn từng ban học nhưng sẽ thi chung, đến khi sắp hạng trúng tuyển th́ được sắp theo từng ngành học (tức là các Trường trực thuộc Trung tâm là Công Chánh, Công Nghệ, Hàng Hải, Điện, Hóa). Thí sinh thí hai môn chính là Toán và Lư Hóa, thời gian thi là 4 tiếng. Ngoài ra sinh viên có Tú Tài Kỹ thuật muốn ghi danh thi vào trường Quốc Gia Công Nghệ th́ sẽ được sắp hạng riêng nhưng phải thi thêm môn Kỹ nghệ họa (theo tài liệu [2] ).

Sinh viên kỹ thuật thường có chương tŕnh học rất nặng. Hàng tuần phải học tới 40 tiếng đồng hồ, cần có những sinh hoạt giải trí, thể thao, văn nghệ xă hội, nên Trung tâm có một Phụ tá Sinh viên vụ đặc trách vấn đề này.

Thời gian học cho bậc  Kỹ Sư  là từ 4 đến 5 năm tùy theo ngành và ban Cán Sự là 2 năm.

Trong lúc học, sinh viên học cấp kỹ sư, và sinh viên cấp cán sự từ năm thứ 2, đều bắt buộc có 1-2 tháng tập sự (nay gọi là thực tập) tại các công ty như Điện lực Việt Nam, Xi măng Hà Tiên, hay Đài Truyền h́nh. Thời gian tập sự đó giúp sinh viên hiểu rơ hơn về môi trường làm việc trong tương lai. Sau mỗi kỳ tập sự, sinh viên phải làm một bản phúc tŕnh gửi về trường để chấm điểm.

Sau đại học, sinh viên tốt nghiệp ưu tú, hay những ai có mong muốn học tiếp th́ sẽ được nhà trường giới thiệu với các đại học nước ngoài.

Theo tài liệu [11] : Trước năm 1975, tuy đất nước trong thời chiến tranh, nhưng cũng có một số chuyên viên đă được chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho đi tu nghiệp tại những quốc gia khác.

Đến năm 1972 ,thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, Trung Tâm  Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ được nâng cấp , đổi tên thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật, rồi  sau đó  vào năm 1974 thành Trường Đại học Kỹ Thuật  là cơ sở duy nhất đào tạo kỹ sư và cán sự tại miền Nam.

Cũng trong năm 1974 này ,  Trường Đại học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật hay Trung Tâm  Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ )  được gom vào thành một thành phần của Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) ở Thủ Đức,tỉnh Gia Định.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

  1. Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm  Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;
  2. Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972) ;
  3. Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
  4. Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại") ;
  5. Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;
  6. Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn") ;
  7. Trường Sau Đại học ( College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiến sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Theo tài liệu  [12] :  Rất tiếc,  miền Nam mất nước ngày 30/4/1975 ,kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn đại học theo hướng của các quốc gia tân tiến.

Tính đến năm 1975 th́ trường Cao Đẳng Điện Học đào tạo được 890 chuyên viên, trường Cao Đẳng Công Chánh, 2000 (1902-1975) và trường Quốc gia Kỹ sư Công Nghệ đă đào tạo được khoảng 700 chuyên viên.

Những kỹ sư, cán sự tốt nghiệp Trung Tâm Quốc Gia kỹ thuật các ngành nói trên, nếu thi hành nghĩa vụ quân sự, vào trong quân ngũ có thể phục vụ tại những ngành Công binh, Quân cụ, Quân nhu,Truyền tin, hoặc các cơ xưởng kỹ thuật của các binh chủng lục quân, hải quân,không quân. Ngoài ra c̣n một số người làm việc cho những cơ sở của tư nhân.

Sau 30/4/1975,theo quyết định số 426-Ttg ngày  2 tháng 10 năm 1976 của tên thủ tướng ngụy quyền cộng sản (Sic), trường Đại học Phú Thọ được đổi tên thành Trường đại học bách khoa với những ngành học chính như: cơ khí, điện, điện tử, xây dựng công tŕnh dân dụng và công tŕnh công nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi, hoá kỹ thuật, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ... Trường do Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp (ngụy quyền cộng sản) quản lư.

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975.

2.     https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/  Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net .

3.     GS. Huỳnh Công Ân - Các trường Đại học ở miền Nam trước 1975 (Phần 1) .

4.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ .

5.     https://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html Lịch Sử Trường Quốc Gia Thương Mại – Sài G̣n - Trường Quốc Gia Thương Mại- Sài G̣n  (École Nationale De Commerce de Saigon) - Saturday, January 11, 2014 .

6.     https://ahvinhnghiem.org/caodangspkt.html Trường tôi ( 2 ) - Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật -21-2-2009 .

7.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

8.     https://www.facebook.com/media/set/?set=a.500393113305488&type=3  Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật ngày xưa -  24/09/2012.

9.     http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ Khoa Học và Công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM .

10.  file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/kyyeu%20Cong%20Ch%C3%A1nh%20Phan2.pdf Kỷ Yếu Công Chnah Phần Hai-Danh sách Giám Đốc Trường , Giáo  sư và Sinh Viên.

11.  https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ai-huu-cong-chanh-mung-tan-nien-tai-little-saigon/  Ái Hữu Công Chánh mừng Tân Niên tại Little Saigon - Lâm Hoài Thạch/Người Việt March 20, 2022.

12.  GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền Nam trước 1975  (Phần 1).

 

 

02- Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức – Quận Thủ Đức-Tỉnh Gia Định

Sau đây là sơ lược việc thành lập Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  theo tài liệu [1,2,3,4] :

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) là một viện đại học công lập có khuôn viên chính nằm ở  quận Thủ Đức, tỉnh gia Định, được thành lập bởi Sắc Lệnh số 264-TT/SL do Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu kư ngày 29 tháng 3 năm 1973. Tiến sĩ Đỗ Bá Khê, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh Niên được cử làm Viện trưởng Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

(Ông Đỗ Bá Khê  sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại  Hoa Kỳ ; Tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Southern California); Thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời  Đệ Nhị Cộng Ḥa. Ông là viện trưởng sáng lập và là người đích thân hướng dẫn việc thiết kế và xây dựng Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Ông c̣n là người đă thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở miền Nam Việt Nam) .

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn (như kỹ thuật, nông nghiệp, lâm nghiệp, thú y) , đây là điểm khác biệt giữa mô h́nh "viện đại học bách khoa" và mô h́nh "viện đại học".

 Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập dựa theo mô h́nh các polytechnic university ở tiểu bang California, Hoa Kỳ, thời đó như : California Polytechnic State University ở San Luis Obispo và California State Polytechnic University ở Pomona.

Vào năm 1974 , do bởi Sắc lệnh số 010-SL/VHGDTN do Thủ Tướng  Trần Thiện Khiêm kư ngày  11 tháng 01 năm 1974 ,trường Đại Học Kỹ Thuật  ( trước đó tên là Học viện Quốc Gia Kỹ Thuật,nguyên thủy là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ)  được sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Toàn được cử làm Khoa Trưởng Trường Đại Học Kỹ Thuật.

Trong thời gian đầu, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục Kỹ Thuật, Khoa Học,Kinh Tế-Quản Trị  và Thiết Kế Đô thị; Ngoài ra c̣n có trường đào tạo sau đại học.

Theo dự kiến, các cơ sở giáo dục đều gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lư hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

Hạt mầm của Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức là đề án Làng Đại học Thủ Đức của Viện Đại Học Sàig̣n được chính phủ thời  Đệ Nhất Cộng Ḥa soạn ra vào tháng 1 năm 1961.

Đây là một phần trong quy hoạch tổng thể đô thành Sàig̣n và kế hoạch kiến thiết quốc gia. Theo kế hoạch đó th́ các Trường Đại học Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật Khoa, và Trường Cao Đẳng Kiến Trúc sẽ dời lên Thủ Đức. Riêng Trường Đại học Y Dược sẽ được giữ lại ở Sài G̣n.

Hai kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và Lê Văn Lắm được giao thiết kế Làng Đại học Thủ Đức trên diện tích 3 cây số vuông bao gồm các cơ sở hành chánh, thư viện,sân vận động, cư xá sinh viên, và 300 ngôi nhà (căn biệt thự ) dành cho giáo sư và nhân viên.

Theo tài liệu [5,6] : Làng Đại học Thủ Đức được phân chia theo ô bàn cờ ,đường ngang lối dọc, rợp bóng cây xanh . Những ngôi biệt thự, giấu ḿnh dưới tán cây xanh, là nơi ở của các giáo sư đại học  v́ vậy  từ bố trí , thiết kế, xây dựng đến đặt tên đường cũng mang nét riêng, như gửi gắm, hy vọng hướng đến cái đẹp, nhân văn, như đường Công Lư, Tự Do, Bác Ái, Dân Chủ, Ḥa B́nh… Mỗi khuôn viên biệt thự dành cho giáo sư có không gian riêng biệt ,diện tích từ 900 đến  2.200 thước vuông . Biệt thự được  xây  thấp vuông vắn, kiến trúc đa dạng về h́nh thức, theo phong cách, sở thích của người mua . Biệt thự  nào cũng có vườn thật rộng trồng cây xanh mát. Gia đ́nh giáo sư Lư Chánh Trung mua  một biệt thự với giá 300.000 đồng và trả góp 15 năm .

V́ t́nh h́nh chiến tranh, dự án này bị đ́nh trệ và sau đó chỉ thực hiện một phần để lập ra Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  với khuôn viên chính rộng 600 mẫu tây nằm ở quận Thủ Đức, cạnh xa lộ Biên Ḥa và  xa lộ Đại Hàn .

 

 

 

Sơ đồ Làng Đại Học thuộc Viện Đại học Sài G̣n dự kiến xây dựng ở Thủ Đức

 

Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại");

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");

7.     Trường Sau Đại học (College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiến sĩ.

 

Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn đại học theo hướng của các quốc gia tân tiến.

 

Sau năm 1975, ngụy quyền cộng sản giải thể  Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức và chia thành nhiều cơ sở đơn lẻ theo mô h́nh phân tán ngành học của Nga Sô , trong đó có Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (Sic) , Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (Sic)  và Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Sic) .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     GS. Huỳnh Công Ân - Các trường Đại học ở miến Nam trước 1975 (Phần 1).

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%C3%A1ch_khoa_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c  Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức

3.     https://hoamunich.wordpress.com/2019/02/26/he-thong-giao-duc-truoc-1975/ Hệ Thống Giáo Dục trước 1975- Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

4.     https://suphamk2dalat.wordpress.com/2012/09/14/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc-nam-1975-nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong/   Nền Giáo Dục  của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa (Phần 2)- Sự tiếc nuối vô bờ bến -Tháng Chín 14, 2012 bởi sưphạm ÁONÂU Đalạt .

5.     https://www.sggp.org.vn/tu-lang-dai-hoc-den-do-thi-tri-thuc-post583955.html

Trần Yên - Từ làng đại học đến đô thị tri thức - SGGP 14/02/2021.

6.     https://tuoitre.vn/sai-gon-nho-nho-thuong-thuong-ky-6-nho-lang-dai-hoc-thu-duc-2020103110211294.htm - Phạm Vũ - Sài G̣n nhớ nhớ thương thương - Kỳ 6: Nhớ làng đại học Thủ Đức .

Bas du formulaire

 

 

03- Trường Cao Đẳng Công Chánh - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sài g̣n

Trường Cao Đẳng Công Chánh, do bởi Sắc Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, được chuyển dời và sau đó trực thuộc thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa. Trường  nằm trong khuôn viên  của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Sau đây là sơ lược thành lập Trường Cao Đẳng Công Chánh theo tài liệu [1,2,3,4] :

H́nh thành :

Năm 1898, Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông Dương và các Ty, Sở Công Chính được thành lập.

Với mục đích đào tạo người Việt giúp việc cho các cơ quan Công Chính, tháng 2 năm 1902, người Pháp thành lập "ngạch sự chuyên môn bản xứ ngành Công Chính " và đến tháng 6 cùng năm, các lớp đào tạo nhân viên cho ngành Công Chính được bắt đầu. Trường Công Chính đầu tiên đặt tại Hà Nội có tên Trường Thư kư và Cán sự Chuyên Môn Công Chính (École des Secrétaires et Agents Techniques des Travaux Publics) và do Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông Dương điều hành.

Nhưng theo tài liệu [5]  viết bởi ông Trần Sĩ Huân ,kỹ sư Công Chánh kḥa 2 Công Chánh : Trường Công Chánh được lập ra dưới thời Pháp thuộc vào năm 1904 tại Hà Nội, tên là École des Travaux Publics để đào tạo nhân viên thừa hành không tương đương với cấp bậc nào của các trường chuyên môn ở Pháp.

Năm 1913, trường Công Chính được cải tổ theo Nghị định 1015 ngày 15 tháng 4 năm 1913 của  Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraut và trường được đổi tên là Trường Công Chính (École des Travaux Publics) . Trường đóng tại Hà Nội, vẫn trực thuộc Nha Tổng Thanh tra Công Chính Đông Dương. Học sinh được nhận vào, miễn thi nếu có văn bằng Cao Đẳng Tiểu Học. Sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ được bổ dụng ngạch Cán sự Chuyên môn bậc 1 hạng 4.

Năm 1917 (1911 theo tài liệu [1] ) , Toàn quyền Đông Dương tái lập trường  Viện Đại Học Đông Dương tại  Hà Nội, trường Công Chính được nâng lên thành Trường Cao đẳng Công Chính Đông Dương (École Supérieure des Travaux Publics de l’Indochine), với chương tŕnh học 2 năm, điều kiện thi tuyển cũng như trước nhưng các sinh viên tốt nghiệp được tuyển vào ngạch Cán sự Công Chính tập sự, sau 2 năm th́ được thi lên hạng 4. Trường lúc này trực thuộc Tổng Nha Học Chính Đông Dương.

Theo tài liệu  liệu [5] : Năm 1917 , trường Công Chánh được tổ chức lại cùng 7 trường chuyên môn khác là Y khoa, Thú Y, Sư Phạm, Canh Nông, Thương Mại, Kiến Trúc, Luật dưới danh hiệu Études Supérieures trực thuộc Nha Giáo Dục Đông Dương do Toàn Quyền Albert Sarraut thành lập.

Sinh viên phải có bằng diplôme (Trung Học Đệ Nhất Cấp) và phải qua một kỳ thi tuyển chọn (concours) , mỗi trường khoảng 30 người. Sau 3 năm học, sinh viên Công Chánh tốt nghiệp được gọi là Cán Sự Công Chánh (Agent Technique des Travaux Publics) .

Năm 1922, mở thêm lớp Cao Đẳng (Cours Supérieurs) một năm và chọn 5 sinh viên đỗ đầu Ban Cán Sự vào học để thi ra Agents Voyers des Travaux Publics (Công tŕnh sư Công Chính) và một ngạch Tây (Cadre métropolitain) gọi là Adjoint Technique.

Lớp này được dạy tại Trường Khoa Học Thực Hành và chỉ dành cho các Cán sự chuyên môn Công Chính tốt nghiệp với số điểm trung b́nh 13 trở lên hoặc có 4 năm công vụ và thi đỗ từ hạng 10 trở lên. Thời gian học là 12 tháng với chương tŕnh gần giống chương tŕnh đào tạo kỹ sư Công Chính tại Pháp thời bấy giờ. Các sinh viên đỗ được cấp văn bằng Diplôme d’Études Supérieures, École des Sciences Appliquées- Section du Cours Supérieur des Travaux Publics và được bổ nhiệm vào ngành Công Tŕnh Sư tập sự, sau 4 năm làm việc được dự thi vào ngành Công Tŕnh Sư Thực Thụ.

Năm 1925, trường Cao Đẳng Công Chính đưa thêm môn học Địa Chính và Địa Dư vào chương tŕnh để đào tạo các cán sự chuyên môn người bản xứ cho các Sở Công Chính, Địa Chính và Địa Dư. Thời gian học tăng lên 3 năm. Sinh viên tốt nghiệp được cấp " Văn bằng tốt nghiệp lớp Cao đẳng trường Đại học Khoa Công Chính " (Diplôme Supérieur de l’Université avec mention École des Travaux Publics) và được bổ nhiệm vào ngạch Cán sự Công Chính tập sự, sau 2 năm làm việc sẽ được bổ dụng vào ngạch Cán sự Công Chính hạng 4.

Năm 1928, trường Khoa học Thực Hành bị băi bỏ, lớp Công tŕnh sư Công Chính được sáp nhập vào Trường Cao Đẳng Công Chính.

Năm 1931, Trường Cao Đẳng Công Chính tạm dừng tuyển sinh vào các lớp đào tạo Cán sự chuyên môn.

 

Bằng Cán Sự Công Chánh Đông Dương 1934 - H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

 Năm 1938, trường mở lại lớp đào tạo này cho các ngành Công Chính, Địa Chính và Địa Dư. Chỉ có những thí sinh có văn bằng Cao đẳng Tiểu học hay tương đương mới được dự thi và khoá học kéo dài trong 3 năm. Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Tốt Nghiệp Cán sự Công Chính và được bổ dụng vào ngạch tập sự.

Theo tài liệu  [5] : Năm 1941, mở Trường Kỹ Sư Công Chánh (ingénieur Indochinois des Travaux Publics) 4 năm tuy nhiên v́ Thế chiến Thứ Hai xảy ra ở Pháp thiếu chuyên viên nên năm 1943, Nha Tổng Thanh Tra Công Chánh (Inspection Générale des Travaux Publics de l’indochine) mới tổ chức kỳ thi kỹ sư chuyên nghiệp đầu tiên (ingénieurs Professionnels) tại Hà Nội, có chừng 150 người dự thí gồm các cán sự, agent voyer ,  adjoint technique trên 10 năm thâm niên công vụ. 24 người trúng tuyển kỳ thi này trong đó có cụ Khúc Đản (1903) , cụ Trần Văn Mẹo (hạng nh́), cụ Trần Đăng Khoa (hạng nhất). Cụ Khúc Đản hiện nay (năm nào không rơ ?) sống ở Paris và rất hăng hái tham gia các hoạt động ái hữu » .

Cụ Trần Văn Mẹo vào thời Đệ Nhất Cộng Ḥa làm Bộ Trưởng Công Chánh kiêm Bộ Trưởng Kinh Tế (1955-1956). C̣n cụ Khoa ra Bắc  làm  Bộ Trưởng Công Chánh (1946-1954).

 Lớp Công Tŕnh Sư khoá 1943-1944 được cải đổi thành lớp đào tạo Kỹ sư Công Chính Đông Dương.

Đến năm 1945, khi quân đọi Nhật đảo chính Pháp, trường Cao đẳng Công Chính tại Hà Nội phải đóng cửa.

Theo tài liệu  [5]  : Trong số sinh viên xuất thân từ trường Công Chánh có 3 người nổi tiếng yêu nước lưu danh hậu thế . Đó là  các ông Phan Văn Hùm (tốt ngiệp năm 1922), Phó Đức Chính và Nguyễn Hiến Lê (tốt nghiệp năm 1934).

Tái lập tại miền Bắc Việt Nam :

Nngày 15 tháng 11  năm 1945, khai giảng năm học đầu tiên của Trường Cao đẳng Công chính dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Sic).Ngày 13 tháng 4 năm 1946, trường mang tên Trường Đại học Công chính theo Sắc lệnh số 50 (của cộng sản).

Tái lập tại miền Nam Việt Nam - Trường Cao Đẳng Công Chánh

Theo tài liệu  [5] :  Măi đến tháng 7 năm 1947, Trường Cao Đẳng Công Chính mới được mở lại ở Sàig̣n và chỉ dành cho Ban Trung Đẳng. Nhưng v́ thiếu trụ sở nên trường phải di chuyển nhiếu nơi.

Theo tài liệu [1] : Đến năm 1947 ,Trường Cao đẳng Công Chính được tái lập tại Sàig̣n và đặt trụ sở tại Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, tọa lạc số 48 ,đường Phan Đ́nh Phùng quận 1-Sài g̣n.

Mặt khác,tài liệu [2] :  Đến năm 1947, Trường Cao Đẳng Công Chính được tái lập tại Sài G̣n và đặt trụ sở tại Trường thực nghiệm Bộ Công Chánh và trường trung học Pétrus Kư.

Theo tài liệu l [5] :  Năm 1949,trường được đặt tạm ở trường Luật nằm trên đường Duy Tân (thời Pháp tên là đường là Garcia ), sau đó một tháng th́ dời lên lầu tư Tổng Nha Công Chánh ở số 55,đường Pasteur. Cho đến đầu năm 1950 mới chính thức dọn  đến trường mới cất xong trong khuôn viên trường trung học Petrus Kư,đường Nancy (sau là đường Cộng Ḥa).

Đến năm 1950, chính phủ Pháp chuyển giao trường lại cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam theo phụ ước ngày 30 tháng 5  năm 1950, Kỹ Sư Trần Văn Bạch được cử giữ chức Giám đốc trường từ năm 1950 đến 1954 và trường được đổi tên thành Trường Cao Đẳng Công Chính Việt Nam.

Theo tài liệu [1] : Ông Trần Văn Bạch  tốt nghiệp kỷ sư  khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .

Theo tài liệu [6,7] : Ông Trần Văn Bạch   là sáng Lập Viên và Giám Đốc Trường Việt Nam Hàng Hải. Ông  vừa làm Giám Đốc vừa làm Giáo sư Tóan cho ban Chỉ Huy (Pont) .

Theo tài liệu [1] :  Ông  được mời làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến.

Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.

Ông Bạch chẳng những là Giám Đốc các trường Cao Đẳng , ông còn là giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam nói riêng, và Việt Nam nói chung. Ông sinh năm 1910, mất năm 1975.

Chương tŕnh học lúc này vẫn áp dụng theo Nghị định số 2027, ngày 8 tháng 8 năm 1944 và các Nghị định bổ sung, các lớp học gồm có:

Sau khi học xong lớp đệ II Trung Đẳng, nếu tốt nghiệp được tối thiểu 12/20, sinh viên sẽ nhận được bằng Cán Sự Công Chính.

Tháng 9 năm 1951, trường mở lại lớp Cao đẳng để đào tạo Kỹ Sư Công Chính, lớp chỉ nhận những người có bằng Tú Tài II và tốt nghiệp Cán Sự Công Chính với số điểm từ 14/20 điểm trở lên. Ngoại lệ cho những khoá tốt nghiệp năm 1952, 1954 và 1955, lớp nhận thêm những sinh viên có một trong 2 điều kiện trên v́ những năm đó, sinh viên đạt 2 điều kiện trên là rất ít. Trong thời gian này, trường đào tạo được một số Kỹ Sư, Cán Sự ngành Địa Chính và Địa Dư.

 

 

Bằng Kỹ Sư Công Chánh thời Quốc Gia Việt Nam 1949-1955 - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Trực thuộc :

Trong những năm 1956-1957, do Sắc Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trường chuyển dời và sau đó trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ nằm ở  góc đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành  cùng với các trường Cao đẳng Điện, Công nghệ Hoá Học và Hàng Hải.

Trường Cao Đẳng Công Chánh - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Khoá Kỹ Sư Công Chính cuối cùng thuộc quy chế cũ tốt nghiệp năm 1961 và khoá Cán Sự Công Chính tốt nghiệp năm 1960.

Sau khi trực thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ, trường đào tạo 2 ban là Ban Cán Sự và Ban Kỹ Sư.

Đối với Ban Kỹ Sư, kể từ năm 1958, trường chỉ nhận những thí sinh có bằng Tú Tài Toàn Phần Toán (Tú Tài 2) hay Tú Tài  Kỹ Thuật ban Toán vào thi, chương tŕnh học trong 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp Văn Bằng Kỹ Sư Công Chính hay Địa Chính từng môn học.

 

Bằng Kỹ Sư Công Chánh 1961 thời Đệ Nhất Cộng Hòa-Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ Sàig̣n - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Ban Cán Sự có những thay đổi đáng kể, ban đầu (1957) thí sinh thi vào học phải có văn bằng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông hay Kỹ thuật và có chứng chỉ học lớp Đệ Tam. Thời gian học là 3 năm, và 3 tháng hè phải đi tập sự tại các Nha, Sở hay Ty Công Chính địa phương. Thi tốt nghiệp phải đạt trung b́nh hơn 12 điểm mới được cấp phát văn bằng "Cán Sự Công Chánh" hay "Cán Sự Địa Phương". Năm 1967, do kỹ thi Trung học Đệ Nhất Cấp bị băi bỏ nên thí sinh phải có chứng chỉ Tú Tài I mới được vào thi, chương tŕnh học rút lại c̣n 2 năm. Đến năm 1973, kỳ thi Tú Tài I băi bỏ, chỉ c̣n bằng Tú Tài II nên các thí sinh phải có bằng Tú Tài II mới được dự thi, chương tŕnh học kéo dài 2 năm.

Vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ)  đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật - HVQGKT). Viện Đại Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải) và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.

Theo tài liệu  [1] : Đáng chú ý, trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng TúTài 2, ban B (Toán)  hoặc Tú Tài Kỹ thuật Toán của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .

Và chỉ khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập  theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .

 

Sáp nhập :

Tiếp theo đó ,vào ngày 11/01/1974  do bởi  Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN,  Học viện Quốc Gia Kỹ Thuật ( trước đó là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))  sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức, với tên Trường Đại học Kỹ thuật  và chỉ đào tạo hệ đại học.

Tổ chức dạy và học đối với ngành Công Chính được bố trí lại như sau:

 

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ  (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại");

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");

7.     Trường Sau Đại học ( College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiến sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Theo tài liệu  [8] :  Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  theo hướng của các quốc gia tân tiến. 

Theo tài liệu  [9] :  Những chuyên viên ngành Công Chánh Việt Nam Cộng Ḥa đă từng kiến tạo và xây dựng những phi trường, xa lộ, cầu cống, nhà máy điện…

Ngày xưa, các Ty Công Chánh của các tỉnh được sự bảo trợ của Bộ Công Chánh, thành ra những công việc điều hành xem như được khá trôi chảy. Tuy nhiên, đôi khi cũng có bị trở ngại v́ bọn cộng sản hay phá hoại những công tŕnh đă và đang xây dựng hoặc những khu vực tỉnh lộ giao thông.

Do bởi những cuộc phá hoại cầu cống, nhân viên các Ty Công Chánh miền Nam Việt Nam  thường phải làm việc trong những nguy hiểm tới sinh mạng .

Và đây là một trường hợp tiêu biểu trích từ tài liệu [5] : ‘’ Vào năm 1959, t́nh h́nh chung trên toàn lảnh thổ miện Nam Việt Nam tương đối yên tịnh nhưng tỉnh B́nh Dương đă bắt đầu mất an ninh do việt cộng phá hoại cầu đường về đêm gây trở ngại lưu thông và ám sát các viên chức xă ấp để gieo kinh hoàng, gây áp lực với dân chúng.

(Phụ chú : Vào năm này ,cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chưa xuất đầu thế mà bọn việt cộng đă khủng bố ,phá hoại miền Nam !)

Công tác chính của Ty Công Chánh B́nh Dương là đại tu bổ mỗi năm vào khoảng 5 cây số quốc lộ 13 và liên tỉnh lộ 14 , và tu bổ thường xuyên các quốc lộ, liên tỉnh lộ, tỉnh lộ với 5 toán lộ phu, mỗi toán từ 6 đến 10 người. khi công tác chữa phá hoại gia tăng, Ty có thêm một toán đặc biệt, chiều nào trước khi trở về nhà, toán này cũng phải chất một xe camion-benne đầy ván gỗ và một xe canion plateau đẩy vày cầu sắt Eiffel hoặc cống Bê tông đề đêm hôm có phá hoại th́ sáng mai là toán đó sẳn sàng đến Tiểu Khu cùng với một tiểu đội lính đi tái lặp lưu thông.

Trong một cuộc hành quân tái lập Hội Đồng Xă ở phía Nam Bến Súc, Ty Công Chánh cũng được lịnh đi theo với xe cộ cơ giới để ban đường sửa cống v́ đường Liên Tỉnh 14 từ Dầu Tiếng lên Bến Súc đă bị việt cộng đào cai tăng lược,có đoạn bị đấp mô hoặc chặt cây cản đường, có đoạn cống bị phá sập. Công tác này rất nguy hiểm v́ có thể việt cộng c̣n gài mỉn trong các đống chà hoặc chôn ḿn dưới mô đất. Để kéo chà, Ty phải lấy dây thừng dài quấn quanh chà và buộc vào xe ban kéo đi.C̣n muốn ủi đất th́ trước đó phải cho lính rà ḿn rồi mới cho xe ủi đến làm việc. Những người tài xế xe ban, xe ủi Công Chánh hồi đó thật là gan dạ,đáng được tuyên dương ‘’.

Một trường hợp khác :  ‘’… Vào khoảng cuối năm 1963 (?), trên đưởng đi Long Thành vô Nhơn Trạch, việt cộng đào đường theo lối cài tăng lược và đắp chà chận đường tiến quân của Tiểu Khu . Tôi (tác giả tài liệu ) được lịnh của Thiếu Tá Tiểu Khu Phó cho xe cơ giới đi trước kéo chà và lấp đất c̣n Trung Tá Mă Thành Nhơn thí bay trực thăng trên trời quan sát. Đến khi vô gần quận lỵ Nhơn Trạch, tỉnh lộ 10, trong lúc Công Chánh đang đặt lại ống cống bị phá hoại th́ việt cộng ở trong rừng phía bên phải bắn ra,quân ta ở bên phải bắn lại thế là Công Chánh bị kệt ở giữa.Anh em cai phu hốt hoảng,tôi không biết làm ǵ hơn là cho anh em núp dưới hố và đường mương, một lúc sau nghe tiếng máy bay đến thả bom bên lề đường…Chờ măi đến chiều th́ một Đại Uư đến cho hay rút lui về một x̣m nhỏ, nơi tiểu Khu đặt tạm pḥng hành quân…. Tôi kiếm được một căn nhà gần đó, có đào  sẳn một căn hầm ngay giữa nhà,ở trên lót bộ ván dầy. Sau khi thương lượng trả cho gia chủ một số  tiền , tôi cùng một số nhân viên Công Chánh vào nhà  tạm trú  ,số c̣n lại ngủ ngoài xe đậu bọc ung quanh nhà, hồi hộp sợ pháo kích ‘’.

Theo tài liệu [9] :   Trước năm 1975, tuy đất nước trong thời chiến tranh, nhưng cũng có một số chuyên viên đă được chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho đi tu nghiệp tại những quốc gia khác.

Sau đây là danh sách các vị Giám Đốc Trường Cao Đẳng Công Chánh trích từ tài liệu [10] :

Tên                              Học vị                                    Thời gian

Segas                          Kỹ sư Kiều Lộ                        1902-1915

Paul Bergue                Kỹ sư Kiều Lộ                        1915-1922

Favier                          Kỹ sư Kiều Lộ                        1922-1926

Girard                          Kỹ sư Kiều Lộ                        1926-1926

Connan                       Kỹ sư Kiều Lộ                        1926-1934

*                                   Dừng tuyển sinh                    1931-1938

Paul Jarry                    Kỹ sư Kiều Lộ                        1938-1945

*                                   Đóng cửa v́ chiến tranh       1945-1947

Francois Guyau          Kỹ sư Kiều Lộ                        1947-1950

Trần Văn Bạch            Kỹ sư Kiều Lộ                        1950-1954

Trần Văn Sách            Kỹ sư Cao đẳng Điện học     1954-1957

Lê Sĩ Ngạc                  Kỹ sư Kiều Lộ                        1957-1964

Nguyễn Chính             Kỹ sư Bách Khoa, KS. Kiều Lộ                                    1964-1965

Nguyễn Thanh Toàn   Kỹ sư Công Chính, MSCE    1965-1966

Nguyễn Ngọc Thịnh    Tiến sĩ, Kỹ sư Thủy Lợi           1966-1972

Nguyễn Triệu Đồng     Tiến sĩ, Kỹ sư Thủy Lợi           1972-1973

Nguyễn Đức Thịnh      Tiến sĩ, Kỹ sư Thủy Lợi           1973-1974

Nguyễn Đức Chí          Kỹ Sư Công Chính, MSCE        1974-1975

 

(Phụ chú : Sau năm 1975, dưới thời bọn ngụy quyền cộng sản , đi làm Thủy Lợi  đồng nghĩa với  làm việc khổ sai ).

Theo tài liệu [11] : Tổng số giáo sư, giảng viên của trường  Cao Đẳng Công Chánh là 2000 người Và theo tài  liệu [10] : Số giáo sư, giảng viên cơ hửu  của trường  Cao Đẳng Công Chánh tính đến năm 1975 là 44 người .

Theo tài liệu  [8,12] :  Tính đến năm 1975, trường Cao Đẳng Công Chánh đă  đào tạo được 2000 chuyên (1902-1975) .

Sau ngày mất nước 30/4/1975,  Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức bị  ngụy quyền cộng sản giải tán.

Theo tài liệu [9] : Sau khi di tản sang Hoa Kỳ, những kỹ sư đă tốt nghiệp từ Trường Kỹ Thuật Phú Thọ, v́ từng được trường đào tạo để trở thành chuyên viên Công Chánh (?) theo chương tŕnh Hoa Kỳ tại Việt Nam, được chính phủ Hoa Kỳ cho thi lại để lấy bằng hành nghề mà không cần phải học lại. V́ vậy, hầu hết các nghề xây dựng hay điện lực th́ kỹ sư Việt Nam được làm việc lại tại Hoa Kỳ rất nhiều.

Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975.

2.     https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/  Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net .

3.     https://online.anyflip.com/mhnd/gzeh/mobile/ Kỷ Yếu Trường Cao Đẳng Công Chánh -Kỷ Niệm 100 Năm Thành Lập 1902 -2002.

4.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Trường Cao Đẳng Công Chính.

5.     Trần Sĩ Huân-Bóng Ngày Qua-Mơ Làng-1992. 

6.     Trường Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc Hương – Cựu Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017.

7.     https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 - Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.

8.     GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền Nam trước 1975  (Phần 1).

9.     https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ai-huu-cong-chanh-mung-tan-nien-tai-little-saigon/  Ái Hữu Công Chánh mừng Tân Niên tại Little Saigon - Lâm Hoài Thạch/Người Việt March 20, 2022.

10.  file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/kyyeu%20Cong%20Ch%C3%A1nh%20Phan2.pdf Kỷ Yếu Công Chánh - Phần Hai – Danh sách Giám Đốc Trường , Giáo  sư và Sinh Viên .

11.  http://ltahcc.com/lt74/lt74a_30.pdf  Tin thêm về việc soạn thảo Kỷ Yếu Trường Cao Đẳng Công Chánh-Lá thư 74- Tháng 9 - 99.

12.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ .

 

 

 

 

04- Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n – Đại Lộ  Chi Lăng ̣và Nguyễn Văn Học -Gia Định

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n là hậu thân của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

Theo tài liệu [1] : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương được thành lập tại Hà Nội bởi Nghị định do Toàn quyền Đông Dương Merlin phê chuẩn ngày 27 tháng 10 năm 1924. Tuy nhiên v́ một số lư do, năm khai giảng khóa học đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, là năm 1925, đă được lấy làm năm thành lập trường.

Theo tài liệu [2] :  Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đă phải đóng cửa vào năm 1945 v́ t́nh h́nh đặc biệt của đất nước. Tuy nhiên,chỉ qua 20 năm hoạt động, trường này đă đặt được nền tảng vững chắc cho sự phát triển một nền nghệ thuật mới.

(Xem thêm Sơ lược thành lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương trong Phụ đề 1).

Tháng 2 năm 1954, toàn thể hội viên Hội Đồng Tối Cao Giáo Dục tại Hà Nội đă thỉnh cầu chính phủ Quốc Gia tái thiết lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội (Đông Dương ?) ; Kiến nghị  vừa được chấp thuận th́ đất nước bị  chia đôi theo hiệp định Genève.

Tháng 10 năm 1954, hội nghị Giáo Khoa Mỹ Thuật và Mỹ Nghệ họp tại Gia Định tán thành kiến nghị của Hội Đồng Tối Cao Giáo Dục tại Hà Nội trước đây, đề nghị thiết lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật tại Miền Nam tự do.

Và do vậy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă kư nghị định số 1192 GD/NĐ về việc thành lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định .Trường này tiếp tục chức năng và vai tṛ của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

Mặt khác,theo tài liệu [3] :  Năm 1954, Hiệp định Genève chia đôi đất nước; Do đó một số giáo sư và sinh viên di cư vào Nam đă tổ chức một Hội Nghị Tối Cao Toàn Quốc họp tại Gia Định, thỉnh nguyện lên chính phủ thành lập một trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật. Do theo bản thỉnh nguyện ấy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ Tướng Chính Phủ đă kư nghị cho phép thiết lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và bắt đầu hoạt động.

Hơn nửa, theo tài liệu  [4] : Tháng 10 năm  1954 một số họa sĩ yêu nghề đă tổ chức hội nghị giáo khoa Mỹ Thuật và Mỹ Nghệ tại Gia Định quyết định đề nghị thành lập một trường Cao Đẳng Mỹ Thuật có cơ sở bên cạnh Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định.

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài g̣n   được thành lập theo Nghị Định số 1192- GD ngày 31-12-1954. Trường  nằm cạnh cơ sở  trường Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định.

Theo tài liệu [5] : Sau năm 1954 , trường Cao Đẳng  Mỹ Thuật Hà Nội di cư vào Nam đổi tên thành trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đă chọn định cư trong khuôn viên của trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định tọa lạc tại ngả ba Đại Lộ  Chi Lăng ̣và Nguyễn Văn Học , tỉnh Gia Định. (Xem thêm chi tiết về trường  Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định trong bài  Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - Trường  Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật  Gia Định của cùng tác giả ).

 

 

Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định năm 1920-1929 - H́nh trích từ tài liệu [6]

 

 

Mặt tiền trường trung học Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định (trước đó tên là Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định) chụp năm 1960.- H́nh trích từ tài liệu [4] - Sau 1975, sau nhiều lần thay da đổi áo, trường xưa không còn nữa.

Tài liệu [7] cũng viết tương tự như trên :  Bên cạnh Trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n  được thiết lập ngày 30 tháng 12  năm 1954  (31-12-1954  như đă ghi trong tài liệu  [8] )  , với 2 ban đào tạo chính là Hội Họa và Điêu Khắc.

Theo tài liệu [9] :  Năm 1954, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho thành lập trường Quốc Gia  Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n , chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo h́nh với chương tŕnh học 3 năm, qua các chuyên khoa: Sơn Dầu, Sơn Mài, Lụa, Điêu Khắc.

(Phụ chú :  Tên Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật trong những đoạn văn ghi ở trên không đồng nhất : lúc th́ Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định , lúc khác là Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài g̣n. Theo thiển ư của TM tên Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật  Gia Định có thể là đúng hơn bởi v́ trường tọa lạc hoàn toàn trong tỉnh Gia Định ).

Và khởi điểm từ đó rồi kéo dài cho măi đến hai mươi năm sau, trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đă đóng giữ một vai tṛ rất quan trọng trong việc rèn luyện nhiều thế hệ nghệ sĩ của đất nước, để tài bồi, bảo vệ và phát huy một nền nghệ thuật quốc gia tươi đẹp.

Ông Lê Văn Đệ, một họa sĩ với tài năng đặc biệt, trước đây đă đạt được nhiều thành công danh vọng trong nước cũng như ở nước ngoài, đặc biệt là những công tŕnh mỹ thuật của ông tại Vatican khoảng 1936-1937, đă được chính phủ đề cử làm giám đốc, với trách nhiệm nghiên cứu để xây dựng một chương tŕnh đào tạo nghệ sĩ với tiêu chuẩn cao nhất mà các trường Mỹ Thuật Quốc Gia lớn trên thế giới vẫn thường theo đuổi. (Xem thêm Sơ lược tiểu sử  Họa sĩ Lê Văn Đệ trong Phụ đề 2 )

Ông Lê Văn Đệ cùng với những người bạn khác đă vạch ra chương tŕnh tổ chức và theo  đường hướng dưới đây: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội cũ, Trường Quốc Gia Cao Đẳng Paris, Viện Mỹ Thuật Roma và Viện Đại Học Mỹ Thuật Tokyo.

Căn bản chính của trường là bảo tồn dân tộc tính và sắc thái mỹ thuật thuần túy Việt Nam với mục tiêu phục hưng và phát triển nền mỹ thuật cổ truyền nước nhà trong mọi lănh vực. Ngoài ra, trường cũng phải luôn luôn thích ứng với hoàn cảnh và phù hợp với dân trí để tiến kịp sự phát triển mỹ thuật chung của quốc tế.
Căn bản tổ chức chương tŕnh giáo khoa của trường được hướng theo ba khía cạnh sau đây: Mỹ Thuật Thuần Túy ,Mỹ Thuật Phổ Thông  và Mỹ Thuật Công Nghệ.
Với phương lược đă vạch ở trên, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đă phát triển rất tốt, và đến năm 1960 th́ đă trở thành trung tâm Mỹ Thuật Quốc Gia thực sự, với :

Xưởng hoàn bị mỹ thuật thuần  túy ;

Xưởng thí nghiệm đồ gốm mỹ thuật ;

Xưởng thí nghiệm sơn mài áp dụng ;

Xưởng sáng chế các sản phẩm trang trí nội ốc và kiển mẫu bàn ghế theo thời trang .

Buổi học h́nh họa tại lớp dự bị của trường Quốc Gia Mỹ Thuật Sàig̣n đầu thập niên 60


Theo tài liệu [4] :  N
ăm 1971 , theo Nghị Định số 273-QVK/ VHNĐ ngày 03-08-1971 của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa ,trường Cao Đẳng Mỹ Thuật  Sàig̣n  đổi  tên thành trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật  Sàig̣n.Trong năm này, trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n  nâng thêm một cấp học tăng số năm học từ 3 năm lên thành 7 năm.

TM đă t́m kiếm trên mạng những điều kiện để vào học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n, nhưng không có kết quả . Xin các bực thức giả bổ túc cho. Xin đa tạ .

Trường  Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật  Sàig̣n trước năm 1975

 

Theo tài liệu [8]   : Bảy (7) họa sĩ tên tuổi, xuất thân từ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, gồm các ông Lê Văn Đệ, Nguyễn Văn Long, Lưu Đ́nh Khải, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Văn Quế, Lê Yên và Bùi Văn Kinh đă lần lượt đảm đương trọng trách giám đốc  của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n .

Sau đây là niên biểu qua thời các  giám đốc  của trường :

Từ 1954 đến 1966 : Ông Lê Văn Đệ (tài liệu [10] ) ;

Từ 1966 đến 1967 : Ông Nguyễn  Văn Long (tài liệu [11] ) ;

Từ năm 1967 đến 1968 : Ông Nguyễn  Văn Anh  (Họa sĩ  Nguyễn Anh) (tài liệu [12] , [13] và [14] );

Từ 1968 đến 1970 : Ông Lưu Đ́nh Khải (tài liệu [15] và  [16]  ) ;

Sáu (6) tháng đầu 1971 : Ông Nguyễn Văn Quế (tài liệu [17] ) ;

Từ 1971 đến 1973 : Ông Lê Yên (tài liệu [18] ) ;        
Từ 1973 đến 1975 : Ông Bùi Văn Kỉnh (tài liệu [19] : c̣n được biết đến với tên Bùi Kỉnh , ông mất năm 1996 và hiện nay c̣n rất hiếm tác phẩm của ông được lưu truyền cho hậu thế ) .

(Phụ chú :  Năm 1971, ông Bùi Văn Kỉnh  là Trưởng Tiểu Ban và các ông Lưu Đ́nh Khải, Lê Yên cùng ông Phạm Tất Đạt là  Hội viên của Ban Chuyên Môn Mỹ Thuật của Uỷ Ban Quốc Gia Danh Từ Soạn Thảo Chuyên Môn theo tài liệu [20] ) .

 

Giám đốc Lê Văn Đệ (đứng giữa)  trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n. Ảnh: Manhhaiflicks

 

Với chương tŕnh huấn luyện, đào tạo theo qui củ ngày càng vững chắc, cho đến năm 1975, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n và sau đó  Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n đă thực sự đóng giữ vai tṛ vẻ vang của nó, tiếp tục đảm nhận công tác chuyên môn của Trường Mỹ Thuật Đông Dương để lại dở dang trước đây, rồi trên cơ sở đó đă cung cấp được rất nhiều nghệ sĩ tài ba cho đất nước.

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n và trường Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định tuy riêng rẻ nhưng hoạt động song song theo cấp đào tạo, có mối quan hệ mật thiết với nhau v́ nằm kế bên nhau và đa số sinh viên Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n được xuất thân từ Trường Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định.(Xem thêm chi tiết về  Trường Trang Trí Mỹ Thuật  Gia Định trong bài Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật  Gia Định  của cùng tác giả) .

Sau ngày  Sài g̣n thất thủ, 30-04-1975, cả hai Trường  này bị ngụy quyền cộng sản tịch thu và và sát nhập chung lại làm một.

 

Phụ đề 1 : Sơ lược về Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

Theo tài liệu [21] và  [22] : 

Vào ngày 27 tháng 10 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin kư ban hành Nghị định thành lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine ).

 

Trang b́a Bản Nghị định cho phép thành lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội, do Toàn quyền Đông Dương Merlin phê chuẩn ngày 27 tháng 10 năm 1924

 

Tuy nhiên, trường chưa thể mở cửa trước tháng 11 năm 1925, v́ một số lư do:

– Cần thời gian cho việc quy hoạch và xây dựng dăy phụ cận, như ṭa nhà Giải thưởng Đông Dương và tư thất của hiệu trưởng nhà trường.

– Cần thời gian để tập hợp và tổ chức hệ thống giảng viên cũng như để chuẩn bị các phương tiện vật chất khác cho hoạt động của nhà trường. Cũng trong thời gian này, họa sĩ Nguyễn Nam Sơn đă được cử sang học tập tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia và Trường Cao đẳng Nghệ thuật Trang trí Quốc gia ở Paris, nhằm đảm nhiệm một chân phụ tá (moniteur) cho ban giám hiệu.

– Cần thời gian thông báo và chuẩn bị cho kỳ thi tuyển đầu tiên (mà trên thực tế đă diễn ra vào ngày 5 tháng 10 năm 1925).

Như vậy, năm khai giảng khóa học đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tức năm 1925, đă được lấy làm năm thành lập trường.

 

 

Bản vẽ mặt trước và mặt bên khu nhà ở và xưởng vẽ của giáo sư Trường Mỹ Thuật do kiến trúc sư Charles Lacollonge lập năm 1925 – H́nh trích từ tài liệu [22] 

 

Theo tài liệu [21]  : Trường Mỹ Thuật, năm đầu tiên sáng lập ở khu vườn Dufeur. Đó là một xưởng lớn, lợp kẽm trước kia chứa cuốc xẻng của Sở Lục Lộ, năm 1925, vừa là tư thất của ông Đốc Tardieu, vừa là chỗ họp của những người mới được tuyển . Cổng trước của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở số  102 phố Reinach, cổng sau ở số 42 phố  phố Bovet sau là phố Yết Kiêu .

 

Ṭa nhà mới của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại 102 phố Reinach, Hà Nội. Ảnh chụp năm 1929 – H́nh trích từ tài liệu [21] 

 

Về tên trường (theo tài liệu [21]) :  :

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (l’École supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine) tên chính thức là Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đại Học Đông Dương (l’École supérieure des Beaux-Arts de l’Université indochinoise). C̣n gọi tắt là Trường Mỹ thuật Đông Dương (l’École des Beaux-Arts de l’Indochine) hoặc Trường Mỹ Thuật Hà Nội (l’École des Beaux-Arts de Hanoi).

Trường nằm trong hệ thống “Đại học đường” (Grandes Écoles) thuộc ngành giáo dục đại học Pháp. Chữ “cao đẳng” (supérieur) nhằm chỉ bậc học (đại học) và ngạch học (chính qui, công lập). Việc thành lập một trường như vậy buộc phải được quyết định bởi cấp bộ trưởng, mà v́ vậy trường mới được hưởng ngân sách do nhà nước cấp.

 

Chương tŕnh đào tạo (theo tài liệu [22]) :

Trường Mỹ Thuật Đông Dương thành lập tại Hà Nội để giảng dạy các môn nghệ thuật và h́nh hoạ theo chương tŕnh cao đẳng.

Trường nhận sinh viên chính quy bản xứ thông qua thi tuyển và sinh viên tự do người Âu và người nước ngoài. Kỳ thi tuyển sinh diễn ra vào tuần đầu tiên của tháng 9 hàng năm, gồm các môn : Vẽ mặt mộc , bài thi trang trí và bản vẽ phong cảnh.

Thời gian học kéo dài 3 năm, với các môn học như: Hội hoạ và Điêu  khắc, Trang trí, Mỹ học và Lịch sử nghệ thuật, Khảo cổ, Nghệ thuật kiến trúc Viễn Đông…

Trong 3 năm học, trường không tổ chức kỳ thi lên lớp hay tốt nghiệp nào để xác nhận kết quả học tập cũng như xếp hạng sinh viên khi ra trường, mà dựa vào điểm số đối với tác phẩm của sinh viên và tổng điểm đạt được. Sinh viên đạt điểm tối thiểu do Hội đồng giáo sư quy định được cấp bằng của Trường Mỹ Thuật Đông Dương.

Mỗi năm một lần, công tŕnh của sinh viên được đánh giá xuất sắc sẽ được trưng bày công khai tại trụ sở của trường trong 8 ngày.

Giám đốc và đội ngũ giảng viên tài năng :

Giám đốc   trường Mỹ thuật do Toàn quyền chỉ định theo đề nghị của Giám đốc Nha học chính và được lựa chọn trong số những nghệ sĩ nổi tiếng, ưu tiên những nghệ sĩ từng đạt Giải thưởng Đông Dương. Người được bổ nhiệm làm Giám đốc  phải kư hợp đồng làm việc tối đa là 6 năm và có thể gia hạn.

Theo tải liệu  [22] và  [23] :  Victor Tardieu trở thành vị Giám đốc đầu tiên của trường Mỹ Thuật Đông Dương theo Hợp đồng kư ngày 24/11/1924.

 

Trang đầu và trang cuối bản Hợp đồng của Victor Tardieu kư ngày 24/11/1924

 

Theo tài liệu [22] : Ông Victor Tardieu đă dành nhiều tâm huyết, sức lực cho việc khai sinh ngôi trường này.

Ông là người mở đầu nền mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam hiện đại . Ông xây dựng một chương tŕnh đào tạo để phát huy di sản truyền thống kết hợp với hội họa phương Tây, được khích lệ "chấn hưng nghệ thuật An Nam".

Hơn nửa theo tải liệu [24] :  Ông xây dựng một chương tŕnh đào tạo để phát huy di sản truyền thống kết hợp với hội họa phương Tây, được khích lệ "chấn hưng nghệ thuật An Nam".

Theo tải liệu [22] :  Năm 1925, ông  Victor Tardieu đưa vào chương tŕnh giảng dạy những khái luận cơ bản về thư viện, bảo tàng cũng như cơ sở vật chất để khởi động ngôi trường. Ông đă tiến cử những người có ảnh hưởng lớn đối với nền mỹ thuật Đông Dương : Ông Joseph Inguimberty làm giảng viên môn nghệ thuật trang trí, ông Sabatier làm giảng viên trang trí nội thất, ông Ponchemin làm giảng viên phối cảnh và ông Nam Sơn làm cố vấn.

Ban đầu, trường chỉ có khoa Hội hoạ với thời gian học là 3 năm. Năm thứ nhất có 12 sinh viên. Năm 1926, thời gian học được nâng lên thành 5 năm.

Đến năm 1927, trường có thêm khoa Kiến trúc do ông Roger phụ trách.

Năm 1928, ông Joseph Inguimberty tiến hành các cuộc nghiên cứu đầu tiên về sơn dầu và nghệ thuật sơn mài.

Họa sĩ Joseph Inguimberty (người thứ hai từ trái sang) và sinh viên

 

Theo tài liệu [25] : Đỗ đầu khóa 3 năm 1927  trường  Mỹ Thuật Đông Dương  là bà Lê Thị Lựu .  Bà là một họa sĩ chuyên về tranh lụa và tranh sơn dầu người Việt Nam. Bà được xem là nữ họa sĩ đầu tiên của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, nằm trong bộ tứ danh họa Việt tại Pháp :  Phổ- Thứ-Lựu-Đàm .

 

 

 

Họa sĩ Lê Thị Lựu đứng cạnh họa sĩ Nam Sơn  và giám đốc trường Mỹ Thuật Đông Dương Victor Tardieu năm 1927 – H́nh trích từ tài liệu [25]

 

Năm 1930, ông Kruze được bổ nhiệm làm giảng viên chính ngạch của khoa Kiến trúc. Tuy nhiên, khi đó sinh viên khoa Kiến trúc vẫn chỉ  mong muốn trở thành nhân viên công chính.

Trên thực tế, thông qua đội ngũ giảng viên và giám đốc, sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương đă bán được một số bức tranh lụa,tuy nhiên vào thời điểm đó, để kiếm sống bằng nghề vẽ này là điều không dễ.

Năm 1932, trường Mỹ thuật Đông Dương mở thêm khoa Điêu khắc và giao cho ông Mercier phụ trách.

Ông Tardieu qua đời  năm 1937,  chấm dứt thời kỳ sơ khai và đầy khó khăn của trường Mỹ thuật. Các thế hệ học tṛ sẽ nhớ măi về ông với một t́nh cảm đặc biệt và sự trân trọng. Hàng năm, họ tập trung vào “ Ngày Tardieu” để tưởng nhớ về người thầy đáng kính này.

Ngày 25 tháng 4 năm 1938, Toàn quyền Brévié kư ban hành nghị định tái tổ chức trường Mỹ thuật Đông Dương, theo đó, trường chính thức trở thành trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và Nghệ Thuật Ưng Dụng. Trường này có các khoa :  Gốm sứ, Đồ gỗ, Điêu khắc chú trọng đào tạo ngành thủ công mỹ nghệ .Về sau, trường c̣n mở một số khoa khác như: Đồng, Thảm và Đồ đan lát.

Hơn nửa,theo tài liệu  [21] :

Năm 1938, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đă được tổ chức lại (theo nghị định kư ngày 24 tháng 5 năm 1938 của Toàn quyền Đông Dương) và lấy tên là Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật Thực Hành Đông Dương (l’École supérieure des Beaux-Arts et des Arts appliqués de l’Indochine).

Theo đó, nhà trường có :

 Hai (2) ban chính :

1.     Ban hội họa, điêu khắc và sơn mài (section de peinture, sculpture et laque);

2.     Ban kiến trúc, thuộc ngành giáo dục đại học (l’enseignement supérieur).

Ba (3) ban phụ thuộc về nghệ thuật thực hành :

1.     Ban trần triết (?) (bậc 2) ;

2.     Ban kim hoàn và chạm trổ (bậc 1, nghề thủ công) ;

3.     Ban gốm (bậc 1) và cuối cùng là một lớp bổ túc (cours complémentaire) về hội họa và nghệ thuật trang trí.

 

Từ năm 1938, ông  Évariste Jonchère được chỉ định giữ chức giám đốc.

Theo tài liệu  [21] : Viện lưu trữ quốc gia Pháp, ngành hải ngoại (Archives nationales, Section Outre-Mer) hiện vẫn c̣n lưu một bức thư của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Marius Moutet gửi Toàn quyền Đông Dương, ghi ngày 25 tháng 8 năm 1937, đề cử nhà điêu khắc Évariste Jonchère làm giám đốc Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội.

 

 

Nhà điêu khắc Évariste Jonchère trong xưởng điêu khắc của ông ở Hà Nội năm 1943 -H́nh trích từ tài liệu [21]

Ông  Évariste Jonchère chủ trương tăng cường giáo dục thủ công mỹ nghệ ,chú trọng tới phát triển nghệ thuật sơn mài. Như vậy là “sơn mài” từ chỗ là một môn học thử nghiệm, sau khoảng 10 năm, đă trở thành một môn học cơ bản tương đương với hội họa và điêu khắc. Mặt khác, ông cho mở khoa Đồ gỗ và khoa Gốm sứ.  Ông cũng là người đưa ra ư tưởng về việc tổ chức một đơn vị hỗ trợ các cựu sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương trưng bày tác phẩm nghệ thuật của ḿnh.

Theo tài liệu  [24] : Bản tin của Đông Dương Kinh Tế Cục, 1933, trang 215 đă viết về Triển lăm các nghệ sĩ Pháp, Grand Palais, Paris, từ 30-4 đến 30-6-1933: "Nam Sơn, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, ba họa sĩ đă làm rạng danh sự nghiệp giáo dục của trường phái Hà Nội".

 

Thành công nối tiếp thành công :

Cuộc triển lăm đầu tiên do trường tổ chức diễn ra tại Sài G̣n vào tháng 11 năm 1938, triển lăm tại San-Francisco năm 1939 và các cuộc triển lăm tiếp sau đó đă gặt hái nhiều thành công vang dội, nhanh chóng khẳng định uy tín và  phẩm chất  đào tạo của trường.

Ngày 09 tháng 02 năm 1939, Toàn quyền Brévié ban hành nghị định chính thức công nhận sự tồn tại của Hội Nghệ sĩ trường Mỹ thuật.

 Năm 1939, trường mở thêm 2 xưởng mới và hoạt động của trường ngày càng được mở rộng.

Lớp điêu khắc, khoảng 1940 -  H́nh trích từ tài liệu [21]

 

Các cuộc triển lăm năm 1939, 1940 và 1941 là minh chứng cho thấy sự tiến bộ của Hội nghệ sĩ trường Mỹ thuật.

Mặc dù vậy qua biểu đồ kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật, người ta nhận thấy doanh thu đạt được tại các năm không ổn định. Năm 1934, doanh thu mới chỉ là 600 đồng bạc Đông Dương, năm 1935 là 687. Năm 1936 ghi nhận mức doanh thu thấp nhất là 300 đồng bạc Đông Dương. Nhưng kể từ năm 1937, con số này đă lên tới 1.600. Năm 1938 là 7.180, sau đó đến năm 1939 đánh dấu bước nhảy vọt thần kỳ là 24.799 đồng bạc; 25.422 đồng năm 1940; 27116 đồng năm 1941. Năm 1942 ghi nhận con số ấn tượng là 41.087 đồng bạc. Phải thừa nhận rằng dưới sự kiểm soát của trường Mỹ Thuật Đông Dương, Hội cựu sinh viên của trường đă có một lượng lớn khách hàng tiềm năng.

Cuộc triển lảm trưng bày các  tác phẩm tại  viện Bảo tàng Maurice Long nhân dịp Hội chợ Hà Nội năm 1941 là một thành công thực sự đối với trường cũng như Hội Nghệ sĩ Đông Dương.

Không ảnh Bảo tàng Maurice Long năm 1931

Được sự ủng hộ của Đô đốc Jean Decoux, năm 1942, trường xây dựng thêm một ḷ gốm nhằm giúp các nghệ nhân làm quen với nghệ thuật nung gốm. Ngày 22 tháng 10 năm 1942, Toàn quyền Đông Dương kư ban hành nghị định về việc tách trường Cao đẳng Mỹ thuật gồm các khoa Hội hoạ-Sơn mài-Điêu khắc và Kiến trúc ra khỏi trường Mỹ Thuật Ứng Dụng.

Chỉ trong một thời gian ngắn, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật đă có bước phát triển ngoạn mục. Điều đáng nói là các tác phẩm nghệ thuật của sinh viên tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật rất được ưa chuộng, thậm chí không đủ đáp ứng nhu cầu của công chúng.

 

Các tác phẩm trưng bày trong Bảo tàng Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (khoảng 1940 – 1945) - Ở chính giữa là hai tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, Thiếu nữ bên đầm sen và Bên hồ Hoàn Kiếm, tranh dài khổ dọc bên phải là tranh khắc gỗ Hai cô Mường của Nguyễn Văn Tỵ…- H́nh trích từ tài liệu  [21]

 

Theo tài liệu  [23] :  Sự ra đời của trường đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, lần đầu tiên các kỹ thuật và quan niệm nghệ thuật phương Tây được giới thiệu và giảng dạy một cách có hệ thống tại Việt Nam, song song với việc khuyến khích khai thác các giá trị nghệ thuật truyền thống. Đây không chỉ là một cơ sở đào tạo mà c̣n là cái nôi nuôi dưỡng những tài năng kiệt xuất, những người sau này đă định h́nh diện mạo cho nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Ngôi trường đă đóng góp to lớn vào việc h́nh thành một thế hệ nghệ sĩ Đông Dương với bản sắc riêng, kết hợp hài ḥa giữa tinh hoa Đông và Tây.

Các giảng viên người Pháp như Victor Tardieu và Joseph Inguimberty đă truyền đạt kiến thức về bố cục, ánh sáng, màu sắc theo học thuật phương Tây, đồng thời cũng rất trân trọng và khuyến khích học tṛ t́m về cội nguồn văn hóa dân tộc. Chính sự giao thoa này đă tạo nên những tác phẩm độc đáo, mang đậm dấu ấn của thế hệ vàng mỹ thuật Việt Nam giai đoạn này.

Tầm quan trọng của trường không chỉ dừng lại ở việc đào tạo mà c̣n ở việc tạo ra một môi trường sáng tạo, nơi các họa sĩ tài năng có thể tự do khám phá và thể hiện bản thân.

Những cống hiến của các họa sĩ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đă tạo nên một giai đoạn rực rỡ trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Tên tuổi và tác phẩm của họ măi là niềm tự hào, là di sản quư báu cần được ǵn giữ, nghiên cứu và phát huy, tiếp tục truyền cảm hứng cho những người yêu nghệ thuật hôm nay và mai sau.

 

Sau đây là vài hàng về  Họa sĩ Victor Tardieu trích từ tài liệu  [21] :

 

Victor Tardieu trong xưởng họa của ông ở Bắc Kỳ (khoảng 1922 -1923) -  H́nh trích từ tài liệu [21]

 

 

Victor Tardieu -  Bức tranh trang trí Giảng đường lớn Khoa Y học, Đại học Đông Dương- Ảnh chụp năm 1930 -  H́nh trích từ tài liệu [21]

 

Lâu nay người ta vẫn thường đồng nhất ông Victor Tardieu ,người sáng lập và là giám đốc trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương  với “những người Pháp sống ở thuộc địa”. Sự thật, ông  Victor Tardieu đến Việt Nam với tư cách của một người đến để hợp tác. Bản thân ông Victor Tardieu cũng không hề có quan hệ họ hàng ǵ với ông André Tardieu, một chính khách hàng đầu của nước Pháp thời đó. Bởi vậy, về mặt quyền lực, ông Victor  Tardieu cũng không hề có bất cứ một sự hậu thuẫn nào đến từ chính quốc Pháp. Trải qua nhiều phen Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương phải đối mặt với nguy cơ bị đóng cửa, người đứng ra bảo vệ mạnh mẽ nhất cho sự tồn tại của nhà trường lại chính là một người Việt Nam: ông Nghị trưởng Phạm Huy Lục.

Trên tạp chí Indochine (số 171, ngày 9 tháng 12 năm 1943), về Victor Tardieu, học giả Claude Mahoudot viết: “…1924, năm thành lập Trường Mỹ Thuật Hà Nội, vậy đúng là một năm quan trọng. Các họa sĩ An Nam không mắc sai lầm. V́ vậy họ đă tôn kính hồi nhớ lại người sáng lập nhà trường là ông Victor Tardieu.

 Chúng tôi không được biết người giám đốc đầu tiên này. Xem ảnh mà chúng tôi có, th́ ông to lớn, cầm gậy trong tay, đi giày có ghệt, mặc áo gi-lê có mang dây đồng hồ, tóc chải cẩn thận, trắng hoàn toàn. Đôi mắt tinh nhanh sau một cặp kính của ông chủ ngân hàng Mỹ, thực là chân dung của một con người làm chủ tịch hội đồng quản trị, và thực tế, ông là một nhà quản trị giỏi.

Ông cũng c̣n là một người thúc đẩy tốt, nếu ta nh́n vào những triển lăm mà ông tổ chức từ khi trường ra đời và những hoạt động của trường. Ông lại c̣n một đức tính hiếm hoi nữa: ông biết tập họp những người xung quanh. Nếu bản thân ông là một họa sĩ b́nh thường, như ta có thể thấy qua bức vẽ của ông tại Trường Đại học Hà Nội, th́ ở trong nghề, ông hiểu được những nhu cầu của nghề. Biết rằng trường của ông có một cuộc sống mỏng manh, ông không bị hù dọa mà cũng không nản ḷng trước những lời chỉ trích mà thường mọi việc hay gặp phải khi khởi đầu.”

Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1930. Giám đốc  Victor Tardieu cùng các sinh viên khóa đầu tiên trong một bữa tiệc thân mật. 

Dăy bên phải, từ phía trước xuống: Georges Khánh, Victor Tardieu, Nguyễn Phan Chánh.

Dăy bên trái, từ phía trước xuống: Lê Văn Đệ, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Công Văn Trung (ảnh của Hương Kư Photo)

 

Ở một góc độ khác, trong bản thảo tập hồi kư viết tay của họa sĩ Trần Quang Trân, về t́nh cảm của ông Victor Tardieu đối với những người học tṛ của ông, có một đoạn rất cảm động: “… Từ ông giám đốc, các giáo sư, học tṛ, rất thân mật với nhau. Mỗi năm, nhân dịp ngày nghỉ nào đó, họp mặt đầy đủ để ăn tiệc. Pḥng vẽ dọn quang, kê lại ghế ngồi, rồi thửa tiệc ở nhà Splendide Đông Hưng Viên hay Nhật Tân. Tha hồ say. Tôi c̣n nhớ năm ăn ở nhà anh Trần Phềnh, năm th́ ăn ở gác Hưng Nghiệp  Hội Xă 87 Henri d’Orléan (phố Phùng Hưng), năm th́ ăn ở Nhật Tân lâu. Học tṛ rủ nhau chủ nhật đi vẽ, vào Hà Đông, thuê thuyền đi trên sông Nhuệ, ăn xôi, bánh ḿ, uống rượu và ăn đồ hộp, là thường. Tôi c̣n nhớ một hôm chủ nhật cũng đi thuyền trên sông Nhuệ, đến địa phận làng Khúc Thủy th́ chị Cả Quang gọi lên bờ, vào nhà nghe hát cô đầu, và khi về thuyền c̣n tiễn hai chai xâm-banh, do đào Chu Thị Năm xách ra cho. Chơi th́ chơi thả cửa mà làm cũng thấy mê mải, v́ vẽ bao giờ cũng có hứng.

Vẽ sinh hứng thật. Đă đi vẽ th́ đường khó đến đâu cũng vượt, mưa hay nắng bất chấp, cốt lấy cái cảnh cho đẹp, ánh sáng cho vừa ư là được. Từ ông giám đốc đến học sinh đều liều lĩnh như thế hết.”

 

Sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và sinh viên của một số trường đại học, cao đẳng khác đang trên đường đưa ông Victor Tardieu từ Nhà thương Saint-Paul về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội

 

Victor Tardieu mất tại Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 1937. Các học tṛ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khi ấy đă để tang và đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng như một người cha của họ. Năm 1948, di hài ông đă được chuyển về Pháp, tại một ngôi làng nhỏ ở Fontainebleau.

Victor Tardieu sinh ngày 30 tháng 4 năm 1870 ở Lyon. Năm 1902, ông cưới Caroline Luigini, một nghệ sĩ chơi đàn harpe. Người con độc nhất của hai người, Jean Tardieu, đă từng đi nghĩa vụ quân sự ở Đông Dương, sau trở thành một nhà thơ nổi tiếng bậc nhất của nước Pháp.

 

Lễ khánh thành tượng bán thân Victor Tardieu do Georges Khánh thực hiện tại khuôn viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ngày 25-5-1938 - H́nh trích từ tài liệu [24]

(Phụ chú : Georges Khánh là học tṛ của Victor Tardieu, khóa đầu tiên  trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương) .

 

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương hoạt động cho đến năm 1945 th́ đóng cửa vĩnh viễn.

Phụ đề 2 : Sơ lược tiểu sử Họa sĩ Lê Văn Đệ

Hoạ sĩ Lê Văn Đệ - H́nh trích từ tài liệu [24]

Ông Lê Văn Đệ - H́nh trích từ tài liệu [26]

 

Theo tài liệu [3] : Ông Lê Văn Đệ sinh ngày 24 tháng 8 năm 1906 tại Mỏ Cày, Bến Tre, trong một gia đ́nh phú hào. Thân sinh là cụ Hàm Tri Huyện Lê Quang Ḥe, nguyên cai tổng Minh Đạt (Bến Tre). Thân sinh ông vốn là cựu học và là một nhà đông y có tiếng. Gia đ́nh có mười ba người con. Lê văn Đệ thứ mười, nên ở nhà có tên là Dix (Mười).

Ônh học trung học tại trường Taberd, Sàig̣n và đậu bằng Cao Đẳng Sơ Học (Brevet Élementaire) . Gia đ́nh khuyến khích ra Hà Nội học trường Luật hoặc trường Thuốc, ông đều không thích ,chỉ thích thi vào Mỹ Thuật. Ông có năng khiếu hội họa từ nhỏ. Sau khi rời trường Taberd, mỗi ngày ông đến học vẽ với họa sĩ Huỳnh Đ́nh Tựu.

Theo tài  liệu [27] :  Ông  thi vào trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, năm 1925. Ông học với giáo sư họa sĩ người Pháp Victor Tardieu và Joseph Inguivaberty.

Theo tài  liệu [10] : Trong những năm theo học ở trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường.  Sau 5 năm theo học, ông đậu thủ khoa năm 1930, khóa 1 Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương vào năm 1930. Sở trường của ông là tranh lụa, tanh sơn dầu và bích họa với khuynh hướng tân cổ điển.

Khóa 1 này  gồm tám (8) sinh viên trong số bốn trăm thí sinh của các xứ Đông Dương thuộc Pháp (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Cao Miên ) :  Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, George Khánh, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Công Văn Trung, Nguyễn Tường Tam và Lê Ang Phạm. Sau đó, chỉ có sáu (6) người theo đuổi đến cùng, c̣n Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) và Lê Ang Phạm th́ bỏ dở không theo học hết khoá.

Ông được học bổng du học Pháp  của hội SAMPIC (Société d’Améloration Morale, Intellectuelle et Physique des Indegènes de Cochinchine: Hội Đức Dục, Trí Dục và Thể Dục của người bản xứ Nam Kỳ), ông tiếp tục theo học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Pháp (École Nationale Supérieure des Beaux Arts).

Đáng lẽ  ông phải vào học lại từ lớp Dự Bị, nhưng nhờ có thư giới thiệu của Victor Tardieu và một số tranh của ông đem theo từ Việt Nam qua nên được nhận vào học vào năm thứ nhất ngay. Lại thêm được giáo sư Viện Sĩ Jeans Pierre Laurens (Membre de l’Institut) nhận dạy riêng ở xưởng vẽ về tranh sơn dầu. Nên buổi sáng học ở trường; buổi chiều về lại làm việc ở xưởng vẽ của họa sĩ J.P. Laurens. Ông tiến bộ quá nhanh, nhiều tranh giá trị ra đời lúc này. Gởi tranh dự thi nhiều nơi, được rất nhiều giải thưởng. Lần tiếng tăm vang dội nhiều nhất là đoạt giải nh́ cuộc triển lăm lớn do Hội Nghệ Sĩ Quốc Gia Pháp tổ chức tại Paris, ngày 1 tháng 5 năm 1932. Ông đă gởi dự ba (3) bức: “Mụ Thày Bói”, “Bến Ga Monparnasse” và “Người Đàn Bà Cài Đầu”.

Tài  liệu [10] cũng viết tương tự như trên : Trong thời gian học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông đă gây được sự chú ư trong giới nghệ thuật. Năm 1933, ông đoạt được giải nh́ cho hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức với 3 tác phẩm Bà thầy bói, Trên sân ga Montparnasse, Thiếu nữ điểm trang. Tranh ông được chọn triển lăm tại pḥng số 1, một gian pḥng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ 5.000 họa sĩ các nước.

Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy giờ đă đề cập đến tác phẩm của ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển lăm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa Pháp đă chọn mua ngay một bức tranh "Trong gia đ́nh" của ông để treo ở Bào Tàng Mỹ Thuaat65 Luxembourg. Theo Đông Dương Tuần báo, vào năm 1934 , có hơn 40 tờ báo Pháp đề cập đến tác phẩm của ông. Ông được Bộ Văn hóa Pháp chọn mua bức tranh Trong Gia Đ́nh, và được treo trang trọng ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

Tranh của ông không nhiều, số lớn nằm trong các sưu tập ở Pháp, ở Ư. Một số chân dung vẽ rất tinh tế (các nhà phê b́nh thuờng ví nét vẽ chân dung của Lê Văn Đệ với Foujita; nhưng Lê Văn Đệ c̣n giữ được nét Á Đông hơn). Các nhân vật trong ṭa thánh Vatican như “Chân Dung Đức Giáo Hoàng Pie XI”, “Chân Dung Đức Hồng Y Verdier”,… một số chân dung các thiếu nữ người Ư, Pháp như “Mỹ Nhân Ở Capri” và “Chân Dung Tự Họa”. Một số tranh nghiêng về đề tài tôn giáo như: “Thánh Mẫu Nhân Từ”, “Thánh Mẫu Kiểu Á Đông”, “Thánh Mẫu Madeleine” là những bức tiêu biểu.

Rất nhiều báo chí trong lúc bấy giờ viết bài khen ngợi ông hết ḷng. Bức “Bến Ga Montparnasse” được in vào sách và ông được nhận vào Hội Nghệ Sĩ Quốc Gia Pháp.

Là nguời Á Đông đầu tiên vào hội cũng nhờ tài năng và tiếng tăm lừng lẫy đó, người họa sĩ trẻ Việt Nam, lúc ấy hai mươi lăm (25) tuổi, được một học bổng qua La Mă (Ư)  và Hy Lạp khảo sát và nghiên cứu.

Năm 1936, Tổ chức Báo chí Công giáo bảo trợ tại Rôma mở cuộc triển lăm tranh, tượng, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới: tác phẩm của ông đoạt giải nhất.

Theo tài  liệu [10] :  Sau đó ,ông được  Ṭa Thánh La Mă (Vatican) bổ làm họa sĩ cho Ṭa Thánh và được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công tŕnh do ông chỉ đạo thực hiện đă được báo chí Ư, Pháp, và nhiều nước trên thế giới đánh giá cao về phẩm chất (qualité)  tuy số lượng không nhiều.

Ông được ban thưởng Giáo Hoàng Bội Tinh, đây là một vinh dự cho dân tộc Việt Nam.  Đa số các tác phẩm của ông nằm trong các sưu tập ở bảo tàng Pháp, Ư, và một số tranh chân dung các chức sắc trong ṭa Thánh Vatican như: chân dung Đức Giáo Hoàng PIO XI, chân dung Đức Hồng Y Verdier, chân dung các thiếu nữ Ư, Pháp và một số tranh tôn giáo:  Đức Mẹ Từ Bi, Thánh Madeleine dưới chân Thập Giá (bức này được Viện bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican mua), Mẹ và Con (Viện bảo tàng Mỹ thuật Aix Lachapelle đặt mua)

Tác giả tài  liệu [3] đă  trích sau đây một đọan trong chương “Vào Vatican” trong quyển “Một Nhà Họa Sĩ Ta: Lê Văn Đệ” do Nguyễn văn Hanh viết và xuất bản tại Sài g̣n năm 1939, cũng để đọc lại lối hành văn lúc ấy:

“ Năm 1936, Lê Văn Đệ được vào đền Vatican xếp đặt các gian pḥng Đông Pháp và luôn cả Á Châu. Từ Tiểu Á Châu, Thiên Trước, Mă Lai, Xiêm La, Nam Dương quần đảo, Trung Hoa, Nhật Bản đến Úc Châu trong cuộc Đấu Xảo báo chí toàn cầu sẽ mở ra năm ấy.

Lê Văn Đệ chỉ huy kiến trúc, điêu khắc, trang sức, hội họa, gia cụ. Dưới quyền họa sĩ da vàng có một (1) nhà kiến trúc, một (1) nhà điêu khắc, ba (3) họa sĩ, một (1) kỹ sư, năm (5) tay trang sức và hai mươi (20) phu; cả thảy là người mũi cao da trắng !

… Cuộc Đấu Xảo này có trên ba mươi (30) nước dự. Sau ban trị sự định mỗi xứ gửi tài tử ḿnh đến. Pháp sai qua nhà kiến trúc đại danh Hilt, có phần thưởng thành Rome, và nhà đại họa sĩ Bouleau.

Lê Văn Đệ được lănh công việc trong ṭa Thánh, c̣n nhiều tài tử rành nghề lại không có, thật đáng phục tài. Xưa nay các tài tử có phần thưởng thành Rome chỉ mong ước được ṭa Thánh mướn mà thôi. Biết bao nhiêu người không được đắc vọng ! Nay một họa sĩ ta vào được th́ biết Lê Văn Đệ có tài quán chúng dường nào! Thầy của Lê Văn Đệ, ông Victor Tardieu, chưa được Vatican giao việc lần nào ! Dầu vậy, lúc hay tin học tṛ ḿnh làm công việc trong Vatican cũng như Raphael, Micheal Angelo, chắc ông cũng tự đắc lắm !

Làm trong Vatican bốn (4) tháng trường, từ chín giờ mai đến mười hai giờ khuya, chỉ xả hơi ba giờ để ăn uống.

Khi làm xong, phần việc Lê Văn Đệ đẹp nhứt. Đáng để ư hết là bức tranh “Thánh Nữ Bồng Thánh Trẻ Hài Nhi”… Đức Giáo Ḥang bằng ḷng đến đỗi Ngài cho vào yết kiến và cho hôn nhẫn. Được vào bệ kiến Đức Phalpha không phải dễ. Lại hôn nhẫn, trong đạo, cũng là một danh dự tối trọng…” (Sách đă dẫn, trang 53) .

Theo tài  liệu [ 3] : Năm 1936, là một người công giáo thuần thành , ông Lê Văn Đệ được Đức Cha Celso  Costantins, Thư kư Bộ Truyền giáo Vatican rửa tội với tên thánh Celso Léon Lê Văn Đệ. Với bản chất là người dân Nam Phần, mộc mạc, b́nh dị, thích cái đẹp thôn dă của quê hương, nên vào năm 1939, từ Paris ,ông quyết định trở về nước thăm gia đ́nh sau gần 10 năm học tập, nghiên cứu, sáng tác và nổi danh ở Châu Âu. Ông ở lại luôn v́ muốn đóng góp sức ḿnh cho nghệ thuật đất nước. Cùng trong năm trở về này (1939) ông đứng ra thành lập hội Hội F.A.R.T.A (Foyer de l’Art Annamites: Nhóm Nghệ Thuật Annam) quy tụ các họa sĩ tài danh lúc bấy giờ như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Văn Tị… Tổ chức triển lăm gây tiếng vang lớn, với nhiều tác phẩm giá trị.

Nhưng theo tài liệu [27] :  Năm 1942, ông quy tụ các họa sĩ tài danh lúc bấy giờ, lập ra nhóm Nghệ thuật An Nam, tổ chức nhiều triển lăm gây tiếng vang lớn, với những tác phẩm đi vào ḷng người như : bức tranh lụa Rèm Thưa, Mẫu Tử, … tại Hội chợ Triển lăm Mỹ thuật Quốc tế lần thứ nhất ở vườn Tao Đàn Sài G̣n , bức Nắng Hè là một trong những bức tranh lụa nổi tiếng nhất vẽ vào năm 1954 tại Hà Nội .

Ông là một họa sĩ Á Châu đầu tiên có tranh ở đó (Hội Chợ Triển Lăm Mỹ Thuật Quốc Tế ?). Cùng thời với ông, lúc ấy, tên tuổi họa sĩ Nhật Fujita đă lẫy lừng khắp nơi, cũng chưa có cái vinh dự ấy.

.Năm 1959 ,Sở Văn hóa Thông tin Hoa Kỳ đă in trang nhất bức Nắng Hè trên b́a lịch tết để tặng bạn đọc. Tấm tranh này làm nhớ lại bức sơn dầu của ông vẽ năm 1934: “Trong Gia Đ́nh” cũng bố cục mẹ bồng con nằm vơng và thêm nhiều nhân vật, đă triển lăm tại Milan (Ư) và đă được Bộ Trưởng Thương Mại Pháp Lamoureux mua về để treo tại Viện Bảo Tàng Luxembourg.

Tác phẩm “Nắng Hè” - H́nh trích từ tài liệu [28] 

 

Tác phẩm “Trong Gia Đ́nh” (1934) -h́nh trích từ tài liệu [29] 

Theo tài liệu [27] :  Thời gian về nước là giai đoạn ông hoàn thiện kỹ thuật vẽ tranh lụa, phối hợp nền hội họa Thủy Mặc ngh́n năm của Tàu, với bố cục và tỷ lệ vàng của các họa sĩ thời phục hưng ở Châu Âu, sáng tạo ra nền hội họa tranh lụa truyền thống Việt Nam. Bản chất lụa Việt Nam, là loại lụa tơ tằm, có gân, thớ lụa không mịn và đều như lụa Tàu. Phần lớn họa sĩ miền Bắc dùng lụa Hà Đông, ở miền Nam dùng lụa Tư Cua ở Gia Định. Trước lúc vẽ, lụa được căng lên khung gỗ, và tẩy bằng chanh hoặc phèn chua đề pḥng dán, mọt gặm nhấm.

Khi vẽ th́ không vẽ theo lối công bút của Tàu mà là nhuộm màu từng bước, mỗi lần vẽ xong phải rửa cho cặn màu trôi đi, sau đó lại nhuộm thêm cho đến khi thấy độ màu ổn định mới thôi. Một bức tranh lụa đẹp, ngoài nội dung, bố cục, màu sắc, phải thể hiện được sự óng ả của thớ lụa, chất lụa. Nếu vẽ rửa nhiều nước th́ độ mướt của chất lụa sẽ giảm, chà cọ nhiều tơ lụa sẽ bị xù lông, hoặc mặt lụa bị ĺ, lụa không c̣n độ bám của màu nữa, lúc đó người vẽ phải thay lụa mới. Màu trắng trong tranh thường được chừa lại bằng nền lụa, ngoài nét ra, các mảng thường được dùng cọ bản để đánh màu cho tan đều, chuyển độ trung gian giữa nét và khối ḥa quyện vào nhau. Chính v́ thế, tranh của ông thường óng ả, mềm mại, thớ lụa rơ ràng, bố cục mạch lạc, quư phái, dễ tạo nên cảm giác có một lớp nước rất mỏng, trong trẻo, dịu dàng, đưa người thưởng ngoạn quên đi phần nào cái đau khổ của phận người, của một kiếp phù sinh.

Ngoài bột, màu, sơn dầu. Lê văn Đệ nổi tiếng nhất là lụa, cũng như Nguyễn Phan Chánh, người bạn đồng khóa với ông. Nhưng hai tính chất của hai bực thầy về tranh lụa Việt Nam khác nhau. Tranh Lê Văn Đệ óng chuốt, có tính đài các, quí phái, ngược lại tranh Nguyễn Phan Chánh tạo mặt phẳng dẹt, giữa một gam màu nâu cố hữu, b́nh dị, mộc mạc, mang đầy âm sắc quê hương. Tranh lụa của hai ông này rất hiếm, khó t́m thấy.

Năm 1954, hiệp định Genève được kư kết, chia đôi nước Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc bị  đặt dưới chế độ cộng sản độc tài  đảng trị, c̣n miền Nam thuộc chính thể quốc gia tự do  nhân bản.

Một số giáo sư và sinh viên  trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội  di cư vào Nam. Chính phủ thời bấy giờ quyết định thành lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, và cử họa sĩ Lê văn Đệ làm Hiệu trưởng (giám đốc ?)  đầu tiên của trường.

Mặt khác theo tài liệu [3] : Các  giáo sư và sinh viên di cư vào Nam đă tổ chức một Hội Nghị Tối Cao Toàn Quốc họp tại Gia Định, thỉnh nguyện lên chính phủ thành lập một trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật. Do theo bản thỉnh nguyện ấy, ngày 31 tháng 12 năm 1954, Thủ Tướng Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đă kư nghị cho phép thiết lập trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và bắt đầu hoạt động.

Những sinh viên khóa đầu tiên do vị thầy khả kính Lê văn Đệ hướng dẫn đều đă thành danh như họa sĩ  Trương Thị Thịnh, Vũ Thị Ngà,  Nguyễn Tánh Đệ (Hiếu Đệ) , Thái Bá , Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thanh Thu (điêu khắc gia), Lê Thành Nhơn (điêu khắc gia) , Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm …

(Xem thêm chi tiết về  họa sĩ Trương Thị Thịnh và điêu khắc gia  Nguyễn Thanh Thu trong Phụ đề 3) .

Và nhiều khóa kế tiếp xuất thân từ “Ḷ Lê Văn Đệ” rất nổi tiếng hiện nay như: nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn (vừa mất tại Úc ngày 1 tháng mười một năm 2002), Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thư, Nguyễn Lâm… (Việt Nam), Nguyễn Phước (Minesota), Nguyên Khai, Nguyễn Thị Hợp , Hồ Thành Đức (qua đời ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại California)  và nhiều họa sĩ nổi tiếng khác .

(Phụ chú :  Họa sĩ Hồ Thành Đức sáng lập viên đồng thời là chủ tịch của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975) ).

Chúng ta c̣n giữ được những kỷ niệm ǵ về Thầy” . Tôi (tác giả tài liệu  [3] ) không xuất thân từ trường Mỹ Thuật Gia Định, nhưng có hai năm trong hai giai đoạn ngắn học ở đó : Năm Dự Bị và năm Sư Phạm. C̣n nhớ, năm 1959 vào học lớp Dự Bị, tại dăy nhà sau trại gia binh, giờ trang trí ngồi bàn với Hồ Hữu Thủ, Mai Chững… Những người vẽ H́nh Họa khá, được lên vẽ cùng năm thứ nhất, vào tuần lễ tập vẽ than (fusain). Cuối tuần được thầy Lê Văn Đệ vào sửa bài. Làm Giám Đốc nhưng đích thân dạy lớp căn bản nhất, tôi nhớ măi. Đó là một người thầy sửa bài hay nhất. Chỉ cần một nét quệt, ngón tay của Thầy vào bài thấy ngay chỗ sai, nét than bay bớt đi, nét nhấn khối đậm thêm, h́nh vẽ mới được chắc, độ đậm nhạt cũng rơ ràng…

Tài liệu  [27]  cũng viết như trên : Giáo sư họa sĩ Lê Văn Đệ là giám đốc của trường, nhưng ông là một con người b́nh dị, thích cái đẹp thôn dă, giàu ḷng vị tha, và đặc biệt rất thương học tṛ; nên ông chọn dạy lớp căn bản cho các tân sinh viên. Đối với học sinh, ông là người nổi tiếng sửa bài hay nhất, chỉ cần một nét quệt ngón tay của thầy vào bài là sẽ thấy ngay chỗ sai, nét than bay bớt đi, nét nhấn khối đậm thêm, bố cục mới được chắc, đậm nhạt, âm dương giao ḥa.

Theo tài liệu  [3] :  Ông Lê Văn Đệ là một họa sư bậc thầy về tranh lụa Việt Nam. Am hiểu sâu rộng nghệ thuật phương Tây cũng như phương Đông. Luôn để tâm trí và tấm ḷng ḿnh trong việc giáo dục, đào tạo lớp môn sinh nối tiếp. Có công lớn sáng lập lại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, đặt nền móng vững chắc cho Nghệ Thuật Hiện Đại Miền Nam. Có thể mượn lời của nhà viết lịch sử hội họa nghiêm túc là Huỳnh Hữu Uỷ để kết luận:

“Sự đóng góp của ông quả là khá lớn. Đối với thế giới, ông đă làm vẻ vang cho giống ṇi, đối với trong nước th́ ông đă xây dựng được một đội ngũ tài năng nghệ sĩ tài năng để nhân lên măi cuộc sống phong phú, đa dạng, có gốc gác và rất hiện đại.”

Ông Lê Văn Đệ mất ngày 16 tháng 3 năm 1966 tại Sài G̣n .

Theo tài liệu  [10] : Để vinh danh và tưởng nhớ đóng góp của ông, năm 1973, trường Cao đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n cho dựng bức tượng chân dung đặt ở sân trường do điêu khắc gia Lê Thành Nhơn thực hiện. Sau năm 1975, bức tượng đă bị dỡ đi, tuy nhiên vẫn được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (Sic)  cho đến ngày nay.

Phụ đề 3 : Họa sĩ Trương Thị Thịnh và điêu khắc gia  Nguyễn Thanh Thu - Khóa 1 năm 1958  của trường Quốc gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định

1- Họa sĩ Trương Thị Thịnh

Theo tài liệu [8]  : Người hoạ sĩ tốt nghiệp Thủ Khoa đầu tiên của Trường Mỹ Thuật Gia Định là bà Trương Thị Thịnh. Sinh năm 1928 tại Huế, chánh quán B́nh Dương Nam Việt (?). Năm 1958, bà tốt nghiệp thủ khoa Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n khóa 1.

 

Giáo sư Lê Văn Đệ và nữ họa sĩ Trương Thị Thịnh- H́nh trích từ tài liệu [26]

Bà làm giáo sư hội họa trường trung học Petrus Kư từ 1959 đến 1962. Chuyển qua làm giáo sư chuyên nghiệp Mỹ Thuật Thuần Túy của trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n từ 1964 đến 1975, sau  đó của trường Đại Học Mỹ Thuật thành phố hcm  (Sic) đến 1980.

Năm 1986 đến Washington DC Hoa Kỳ.

Bà   định cư tại thành phố San Jose, miền Bắc California USA từ năm 1988.
Năm 2002 nhận Certifica of Recognition của tiểu bang California công nhận là người nghệ sĩ đă dùng toàn thời gian 50 năm cho nghệ thuật hội họa.


Hoạ sĩ  lăo thành Trương  Thị Thịnh (phải ) & hoạ sĩ Cát Đơn Sa (trái ) -San Jose 6-26-2017

 

2- Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Theo tài liệu [30] : Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1934, tức ngày 15 tháng 12 âm lịch, năm Quư Dậu, tại Gia Định .

Ông Thu có năng khiếu hội họa đặc biệt khi c̣n nhỏ, nên được cha hướng theo nghệ thuật. Năm 1949, học hết lớp Đệ Tứ (lớp 9), ông thi đậu trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định (École des Arts appliqués de Gia Đinh). Đây là ngôi trường danh giá, thành lập từ 1913, do các họa sĩ Pháp giảng dạy nên ông có cơ hội tiếp xúc ngay với mỹ thuật Phương Tây. Suốt bốn năm học, các thầy Pháp ngạc nhiên trước tài năng của học tṛ nên khuyên ông theo con đường mỹ thuật cho đến trọn đời.

Năm 1953 ông đậu vào trường Mỹ Thuật Gia Định, học cùng lúc hai ngành Mỹ Thuật và Giáo Khoa Hội Họa trong 6 năm, mất gấp đôi thời gian. Họa sĩ Lê Văn Đệ, Giám đốc trường, hướng ông theo lĩnh vực điêu khắc. Ông nói, trong sự nghiệp sáng tác của ḿnh có dấu ấn của thầy Đệ.

Tốt nghiệp năm 1958, ông được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm dạy tại hai trường: Trung học Vơ Trường Toản và Mỹ Thuật Gia Định.

Nghiệp giáo chức được bốn năm th́ bị gián đoạn trong 7 năm do binh nghiệp.

 Năm 1969, ông được Biệt Phái Ngoại Ngạch, trở lại dạy tại hai trường trên cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Ông có nhiều tác phẩm được lưu giữ tại trường Mỹ Thuật Gia Định nhưng tất cả đều biến mất sau ngày Sài G̣n sụp đổ.

Ngày 17 tháng 2 năm 1962, ông nhập ngũ theo lệnh Tổng Động Viên. Ông học khóa 13 trường Vơ Khoa Thủ Đức, thuộc lực lượng Sĩ Quan Trừ Bị. Tốt nghiệp tháng 12 năm 1962, ông được bổ nhiệm tại “Trung Tâm Khảo Sát Kỹ Thuật Quân Nhu”, với chức vụ Chuyên viên Đài Án Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa và Bốn Vùng Chiến Thuật.

Suốt bảy năm trong quân ngũ, ông dành phần lớn thời gian để sáng tác đề tài người lính VNCH, tất cả là những tuyệt tác của nền điêu khắc quốc gia đang vào thời cực thịnh. Đó là tượng Ngày Về (giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Ngô Đ́nh Điệm), tượng Quyết Thắng, tượng Chiến Sĩ Vô Danh (bùng binh Tổng Đốc Phương), tượng Trung Liệt (Nghĩa Trang Quân Đội G̣ Vấp)… Trong đó bức tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa là một kiệt tác nghệ thuật mà người đời sau vẫn c̣n nhắc măi. (Xem thêm chi tiết về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa trong bài Nghĩa địa ở Sàig̣n - Gia Định trước năm 1975-  Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa của cùng tác giả).

 

 

Tiếc Thương qua nét vẽ của ông Nguyễn Thanh Thu-H́nh trích từ tài liệu [31]  

 

 

 

Bức tượng Thương Tiếc – H́nh trích từ tài liệu [32]  

 

Tượng đài Thương Tiếc - H́nh trích từ tài liệu [31]  

 

Khi biệt phái năm 1969 ,ông mang cấp bậc Đại Úy.

Các đồng nghiệp nước ngoài đánh giá ông Thu là Điêu khắc gia xuất sắc nhất ở Việt Nam. Đại tá H.G. Fuller, Bộ Chỉ huy Lục Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV) đă viết: “… xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng Thương Tiếc và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng ‘Raising The Flag on Iwo Jima’ (Dựng Cờ Trên Đảo Iwo Jima) ở Arlington” – sau này được dựng thành tượng “Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ”.

Sau khi Sàig̣n thất thủ, ngày 16 tháng 5 năm 1975 một nhóm người  ( côn đồ) đột nhập vào nhà ông Thu lúc 2 giờ  đêm, bắt ông đi. Ông bị giam, đánh đập tàn nhẫn đến gần chết rồi thả ra sau 7 ngày. Hành động này chỉ là một sự trả thù của nhóm người “bên thắng cuộc” chứ không nhằm điều tra ǵ cả.

Vào cuối tháng 6 năm 1975 (chỉ khoảng 2 tuần sau lần đột nhập lần thứ nhứt) , một nhóm người hung hăn đă xông vào nhà ông đập nát các bức tượng, có bức cao 4 thước về người lính Việt Nam Cộng Ḥa, đó là bức Quyết Thắng và bức Thương Tiếc (bằng bê-tông là khuôn đúc của bức Thương Tiếc bằng đồng). Bức tượng Ngày Về nằm khuất sau những cây dây leo nên đă thoát hiểm.

Không chứng kiến cảnh đập phá này v́ một tuần trước đó, ngày 23 tháng 6 năm 1975, ông đă  bị bắt vào trại tập trung để bắt đầu một cuộc tù đày giống như bao sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa phải chịu sau ngày chiến tranh kết thúc.

Những ngày đầu tại trại Hàm Tân, biết ông là tác giả tượng Thương Tiếc, bọn cai tù đă dùng nhục h́nh, làm cho thính lực của ông bị mất hoàn toàn. Tiếp theo là 7 tháng cùm chân rồi hai năm biệt giam trong conex. Để khuất phục ông, bọn cai tù đă bắt ông tạc tượng ông Hồ Chí Minh (tên đại tội đồ của dân Việt Nam)  để đánh đổi thoát khỏi biệt giam trong conex. Sau hai tháng hoàn tất, ông đă cho ra đời bức tượng cao 4 thước… tượng Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa, ông Nguyễn Văn Thiệu !

Ngày 02/09/1977, trại giam Hàm Tân không có tượng Hồ Chí Minh (Sic) để làm lễ mà thay bằng sự ồn ào từ các tù nhân và sự nổi giận của bọn cai tù  rồi biến thành trận đ̣n thù dă man giáng lên tác giả của bức tượng.

Với hành động bất khuất này, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đă tạo nên một tiếng vang lan truyền ra khỏi biên giới quốc gia đang bị thế giới cô lập và măi măi trở thành “một pho tượng” người lính Việt Nam Cộng Ḥa  bất tử.

Ngày 24 tháng 6 năm 1983 , ông được trở về với gia đ́nh sau 8 năm tù và bị giam lỏng tiếp tại nhà trong bốn năm. Ông đă sử dụng thời gian này để hồi phục sức khỏe, dạy điêu khắc để chờ ngày vượt biên.

Hết hạn quản chế, ông đă đào thoát qua ngă Kompongsom. Sau hai ngày lênh đênh trên biển, ngày 28 tháng 12 năm 1987 ông đă đặt chân lên đảo Ko Kut (Thái Lan) cùng với bức tượng mẫu Thương Tiếc bằng thạch cao, cao 50 phân (cm)  đă được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu duyệt. Ông lần lượt qua các trại tị nạn Leam Ngob, Panat Nikhom.

 

Bức tượng mẫu Thương Tiếc bằng thạch cao, cao 50 cm – H́nh trích từ tài liệu [30]  

 

 

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu với các tiêu bản Thương Tiếc của ḿnh (H́nh gia đ́nh cung cấp) - H́nh trích từ tài liệu  [33]  

 

Tại Panat ông đă tạc bức Phật Bà Quan Âm, cao 4m theo yêu cầu của Hoàng Gia Thái Lan và cũng để tạ ơn Người đă giúp ông thoát nạn. Cùng với bức tượng trong trại tù Hàm Tân kể trên, đây là tác phẩm thứ hai của ông sau ngày 30/4/1975 và cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi của ông. Những ngày sau đó ông chỉ tạc những bức tượng theo yêu cầu của bạn bè.

Sau hai năm ở đảo, ông được định cư tại Hoa Kỳ.

Với thính lực gần bằng không, ông thấy ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh nơi xứ người. Trong 15 năm sống ở Mỹ ông hy vọng từng ngày cộng đồng giúp ông phục dựng lại bức tượng Thương Tiếc, nhưng điều đó đă không bao giờ đến. Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm ǵ khác. Ông không t́m thấy niềm vui ở chốn này và lặng lẽ trở về Việt Nam, bỏ lại cảnh cô độc cùng sự ngưỡng mộ của muôn vạn người đồng hương tỵ nạn.

Trở về mái nhà xưa :

Cũng với tâm trạng u uất như ngày trở về từ trại tù Hàm Tân, Ông âm thầm đến thăm từng bức tượng trong sân nhà như kể lể:

“Ta về như bóng ma hờn tủi ;

Lục lại thời gian kiếm chính ḿnh” - Tô Thùy Yên

Ông linh cảm rằng, những linh hồn đang lẩn khuất quanh đây nay lại nhập vào tượng đá để đón mừng cố nhân. Ông sống kín đáo, cô độc trong một căn pḥng nhỏ ở cuối mảnh đất rộng bằng một nửa sân bóng đá. Ông may mắn có sự quan tâm của người cháu và một vài học tṛ cũ Vơ Trường Toản lớp 6/5 khóa 1971.  Các người này giúp ông vượt qua những thiếu thốn trong sinh hoạt và sửa lại căn pḥng khang trang với những tiện nghi tối thiểu.

Trong ba năm cuối đời, sức khỏe ông suy dần để rồi Ông đă ra đi vĩnh viễn vào ngày 6 tháng 5 năm 2025 tại tư gia, cũng là xưởng sáng tác năm xưa ở G̣ Vấp.

Ông Thu nói rằng: “Điêu khắc là nghề do thân sinh chọn, nghiệp giáo do tôi chọn, c̣n binh nghiệp do tổ quốc đă chọn cho tôi. Tôi đă sống trọn cuộc đời cùng Nghề và Nghiệp với lư tưởng TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM”.

Thương Tiếc Ông, một Tượng Đài bất khuất!

 

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu – h́nh trích từ tài liệu [33]  

Tài liệu tham khảo :

1.     http://kmvietnameseart.com/truong-cao-dang-thuat-dong-duong/ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương .

2.     https://hsvnhaingoai.wordpress.com/nghe-thuat/truong-cao-dang-my-thuat-sai-gon/ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n.

3.     https://www.facebook.com/groups/779012369390643/posts/1631905317434673/ Chợ tranh Việt Nam( Vietnam Art Network) Nguyễn Duy Cường  Admin  - 4 mars -Tưởng Nhớ Họa Sĩ Lê Văn Đệ - Đinh Cường .

4.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

5.     Huỳnh Minh-Gia Định xưa và nay-Nhà xuất bản Khai Trí-1973 .

6.     https://hcmufa.edu.vn/tongquan/ Trường Đại học Mỹ thuật thành phố hcm .

7.     Minh An-Trường vẽ Gia Định - Thơm tiếng trăm năm - Họa sĩ Việt Nam Hải Ngoại 12/11/2013 .

8.     https://hsvnhaingoai.wordpress.com/nghe-thuat/truong-cao-dang-my-thuat-sai-gon/ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n - Cát Đơn Sa & TTThịnh .

9.     Bách khoa toàn thư -Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố hcm  .

10.  https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_%C4%90%E1%BB%87_(h%E1%BB%8Da_s%C4%A9) Lê Văn Đệ (họa sĩ) .

11.  http://www.donghotruonghoan.vn:8082/ho%E1%BA%A1-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-v%C4%83n-long Họa sĩ Nguyễn  Văn Long.

12.  https://tgpsaigon.net/bai-viet/ve-bo-suu-tap-nghe-thuat-cua-co-linh-muc-da-minh-tran-thai-hiep-36675 Về bộ sưu tập nghệ thuật của cố linh mục Đa Minh Trần Thái Hiệp - Nguyên Hưng -  13/06/2012.

13.  https://www.facebook.com/Art360.top/posts/h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-anh-t%C3%AAn-th%E1%BA%ADt-l%C3%A0-nguy%E1%BB%85n-v%C4%83n-anh-sinh-n%C4%83m-1914-t%E1%BA%A1i-s%C3%A0i-g%C3%B2n-v%C3%A0-m%E1%BA%A5t-n%C4%83/138946971205213/  Publication de Art360.top - Art360.top - 14 août 2020.

14.  https://www.facebook.com/kyucvehanoi/posts/tranh-%C4%91%C3%AAm-th%C3%A1nh-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-nguy%E1%BB%85n-anh%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-v%E1%BA%BD-r%E1%BA%A5t-nhi%E1%BB%81u-tranh-ch%E1%BB%A7-%C4%91%E1%BB%81-/1008571824631227/ Publication de Kư ức Hà Nội -  Kư ức Hà Nội -  -Tranh ‘’Đêm Thánh’’ của họa sĩ Nguyễn Anh - 24 décembre 2024. 

15.  https://www.facebook.com/permalink.php/?story_fbid=467636503339695&id=429053380531341&locale=fr_FR Kiến trúc sư -10 juillet 2014 -Họa sĩ Lưu Đ́nh Khải (1910 - 1997) .

16.  https://www.cgvdt.vn/xa-hoi/bac-thay-chuan-muc-ve-dao-tao-my-thuat_a10124 Bậc thầy chuẩn mực về đào tạo mỹ thuật... - LM Giuse Nguyễn Hữu Triết - Trưởng ban Mục vụ Văn hóa TGP.TPHCM- 12/11/2019 .

17.  https://www.facebook.com/groups/306029804603532/posts/1187212216485282/ Mỹ Thuật Gia Định -Tuấn Nhipphong – Admin 31 mai - Hoạ sĩ: Nguyễn Văn Quế .

18.  https://memaimotdoi.blogspot.com/2013/04/bo-suu-tap-tranh-cua-toi.html Bộ sưu tập tranh cũa tôi -20/4/2013 -Họa sĩ Lê Yên .

19.  https://www.leauctions.vn/hoa-si-bui-kinh-va-tac-pham-thieu-nu-ben-long-chim/ Họa sĩ Bùi Kỉnh và tác phẩm “Thiếu nữ bên lộng chim” .

20.  Nội San Danh Từ Chuyên Môn-Số 6-Bộ Giáo Dục-Trung Tâm Học Liệu-Tháng 6 năm 1972 .

21.  http://kmvietnameseart.com/truong-cao-dang-thuat-dong-duong/ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương-Quang Việt- Source: Hội Mỹ Thuật Việt Nam/ The Vietnam Fine Arts Assocication.

22.  https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/truong-my-thuat-dong-duong-khoi-nguon-cua-nen-my-thuat-viet-nam.htm trường Mỹ thuật Đông Dương - khởi nguồn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại -Hoàng Hằng - 24/10/2024 .

23.  https://weart.vn/tin-tuc/cac-hoa-si-truong-cao-dang-my-thuat-dong-duong/ Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và di sản - Posted on 20/05/2025 by Team We Art .

24.  https://tuoitre.vn/lich-su-hao-quang-cua-my-thuat-dong-duong-20240113094018873.htm Lịch sử hào quang của Mỹ Thuật Đông Dương- Thiên Điểu.

25.  https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_L%E1%BB%B1u Lê Thị Lựu .

26.  https://hoasivietnam.wordpress.com/tham-kh%E1%BA%A3o/le-van-de/tieu-su-le-van-de/ Tiểu sử Lê Văn Đệ .

27.  https://tgpsaigon.net/bai-viet/hoa-si-le-van-de-nguoi-dau-tien-kham-pha-tranh-lua-truyen-thong-viet-nam-44064 Họa sĩ Lê Văn Đệ: người đầu tiên khám phá tranh lụa truyền thống Việt Nam - Lê Hiếu -03/11/2009 .

28.  https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1138344474311374&id=100044074961554&set=a.105714617574370

29.  https://mythuatbui.edu.vn/hoa-si-le-van-de-mot-bac-thay-ve-tranh-lua-viet-nam/ Họa sĩ Lê Văn Đệ – Một bậc thầy về tranh lụa Việt Nam .

30.  https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/thuong-tiec-tien-dua-nhat-phien-tai-tinh-dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu/ Thương tiếc tiễn đưa “nhất phiến tài t́nh”: Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu - Nguyễn Tuấn Khoa -09/05/2025 .

31.  https://baotreonline.com/van-hoc/tap-ghi/dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu-buc-tuong-thuong-tiec.baotre - Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu & Bức tượng “Thương Tiếc ‘’ .

32.  https://hoasivietnam.wordpress.com/dieu-khac/nguyen-thanh-thu/ Họa sĩ Việt Nam- Nguyễn Thanh Thu .

33.  https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu-gia-tu-tran-the/ Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu giă từ trần thế - Y Nguyên –06/05/2025.